31 tháng 12, 2009

The Witcher - Enhanced Edition


The RPG of the Year is back -- in a Premium Edition packed with Powerful Extras!

Assume the role of The Witcher, Geralt, a legendary monster slayer caught in a web of intrigue as he battles forces vying for control of the world! Make difficult decisions and live with the consequences in a game that will immerse you in an extraordinary tale like no other!

Representing the pinnacle of storytelling in role-playing games, The Witcher shatters the line between good and evil in a world where moral ambiguity reigns. The Witcher emphasizes story and character development in a vibrant world while incorporating tactically-deep real-time combat like no game before it.


The Witcher Enhanced Edition Download Features

  • Improved, Enhanced and Expanded Edition of the "Best RPG of 2007"
  • The D’jinni Adventure Editor allows players to create or modify their own adventures in the world of The Witcher.
  • "The Price of Neutrality": the adventure tells the story of Geralt coming back to Kaer Morhen and finding a mysterious camp near the stronghold (featuring 3 new quests)
  • “Side Effects”: the first ever release of this new adventure which focuses on Geralt's close friend, Dandelion, and his troubles in Vizima City (featuring 5 new quests)
  • Improvements and Enhancements: reduced load times, increased game stability, improved facial expressions and weather settings, easier-to-use inventory, more than 200 new animations for dialogue scenes, greater NPC variety and much more

The Witcher Enhanced Edition Download Extras
  • "Making of" videos with never-before-seen bonus material (180 mins)
  • Game Soundtrack MP3s (73 mins)
  • "Inspired by" Music MP3s (59 mins)
  • Official Game Guide PDF (112 pages)
  • Map of The Witcher’s world

http://mega.1280.com/folder/AWIXRNSXJC/
Pass : td4vn.com
-->đọc tiếp...

Các website giúp phát triển kỹ năng công nghệ

Bạn đang rất quan tâm tới lĩnh vực công nghệ và muốn nắm bắt thông tin nhanh nhất, đầy đủ nhất về lĩnh vực này? Hãy truy cập vào các website sau, nơi tụ hội các kiến thức công nghệ mới nhất hiện nay.


1. Videojug (http://www.videojug.com/): Bạn có thể tìm thấy ở đây những hướng dẫn đơn giản, chẳng hạn như kết nối laptop với TV, một cách rất trực quan, đầy đủ thông tin, và dễ theo dõi thông qua video kèm theo lời hướng dẫn. Đối tượng của Videojug chủ yếu là “lính mới” và những người đam mê công nghệ chứ không phải là giới chuyên nghiệp.

2. PC World (http://www.pcworld.com): Ngay tại Việt Nam cũng có một phiên bản của tạp chí công nghệ đã quá nổi tiếng này. PC World là nơi thích hợp nhất để bạn tìm kiếm các đoạn video hướng dẫn, những cách thức khắc phục sự cố máy móc và vô số các thủ thuật khác.

3. WonderHowTo (www.wonderhowto.com): Đối tượng phục vụ của site này khá rộng, từ những người mới làm quen với công nghệ tới dân chuyên nghiệp. Bạn có thể tìm thấy ở đây những hướng dẫn đơn giản như chống phân mảnh ổ đĩa máy tính, tới những hướng dẫn “cao siêu” như phát triển nội dung cho nền tảng Google Android.

4. Howcast (http://www.howcast.com): Nếu bạn chỉ quan tâm tới các thiết bị công nghệ mới ra lò hoặc những tiện ích mới nhất thì Howcast là một nơi quá lý tưởng rồi. Howcast giúp bạn phát triển các thói quen công nghệ hiện đại như: thiết lập mạng không dây tại gia, xây dựng hệ thống bảo mật laser trong nhà, hoặc đơn giản hơn như tạo hiệu ứng 3D trong Photoshop.

5. CNET TV (http://cnettv.cnet.com): Nơi đây tụ hội đầy đủ nhất các video công nghệ, từ những hướng dẫn đơn giản như sử dụng MMS trên iPhone, tới những tác vụ phức tạp như thuê nhạc từ Napster cho điện thoại di động.

6. Tekzilla (http://revision3.com/tekzilla): Cũng thiên về video công nghệ nhưng site này chủ yếu đề cập tới các hướng dẫn đơn giản hàng ngày, chẳng hạn như tự động refresh Firefox, khởi tạo font cá nhân trong Windows, hay tải những tính năng ẩn trong Windows, OS X và các trình duyệt Web.

7. Instructables (http://www.instructables.com/tech): Site này tập trung chủ yếu vào các hướng dẫn công nghệ tự làm, chẳng hạn như tháo loa và chip Bluetooth từ máy MacBook, hay tải game cho máy Nintendo DS từ trên mạng. Phần lớn những nội dung trên trang này là do người dùng tự làm ra, một kiểu giống như YouTube nhưng nội dung ở đây là các hướng dẫn công nghệ.


8. Adobe TV (http://tv.adobe.com/): Nếu bạn đã cài đặt phần mềm Adobe trên máy tính ở nhà và muốn lĩnh hội tất cả những tính năng của những ứng dụng này thì Adobe TV sẽ là nơi tốt nhất để bạn bắt đầu. Hãy khám phá cách thức tạo ra những hiệu ứng ảnh tuyệt vời với Photoshop và tạo ra những thước phim hoạt hình và game đỉnh cao với Flash.

9. Ideal Programmer (http://idealprogrammer.com/): Với hơn 800 giờ video, Ideal Programmer là nơi tuyệt vời lập trình viên xây dựng ước mơ của mình. Site này gồm những bộ sưu tập ấn tượng từ Stanford và nhiều nguồn khác.

10. Hak5 (http://revision3.com/hak5): Thực ra Hak5 là một cuộc triển lãm công nghệ dành cho người dùng chuyên nghiệp, từ xây dựng mạng VPN miễn phí trên Linux/Windows đến trích xuất file thực thi Windows các gói phần mềm. Nói chung, những hướng dẫn của Hak5 là tương đối phức tạp, cần kiến thức uyên thâm mới hiểu được.

dantri
-->đọc tiếp...

mod case rất đẹp


detail: how do you mod this case at here
Những case do các fan việt nam làm rất công phu & rất đẹp. Mình cũng muốn làm một cái thật đẹp nhưng không có dụng cụ. Nhưng vẫn mod được một cái case tàm tạm với công cụ:
  • Một cái kéo
  • một cái mỏ hàn
  • một cái thước
  • một cái bếp ga - cái này sẽ khó khăn nếu em nào mà toàn ăn cơm tiệm

detail: how do you mod this case at here
-->đọc tiếp...

Công bố 10 sự kiện khoa học công nghệ nổi bật 2009

  • Sự kiện đầu tiên: Kết luận của Bộ Chính trị về “Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về khoa học công nghệ và nhiệm vụ, giải pháp phát triển khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2020”; 


  • sự kiện thứ 2: Thông qua chủ trương xây hai nhà máy điện hạt nhân; 

  • 3. Sản xuất thành công vắc-xin A (H1N1) trong phòng thí nghiệm; 
  • 4. Công bố Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của VN;

  • 5. Lần đầu tiên VN cung cấp dịch vụ 3G; 

  • 6. Robot Việt gây tiếng vang lớn ở thị trường quốc tế; 
  • 7. VN có trạm thu ảnh vệ tinh ENVISAT đầu tiên ở châu Á; 
  • 8. TechMart Asean 3+. Techmart Vietnam ASEAN+3 là một hội chợ lớn nhất bởi có sự có mặt của các nước trong khối ASEAN và ba nước đối thoại là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc; 
  • 9. Công trình nghiên cứu "Bổ đề cơ bản đối với các nhóm unita" của GS Ngô Bảo Châu và GS Gerard Laumon vừa được tạp chí nổi tiếng thế giới Times bình chọn là một trong 10 sự kiện khoa học kiệt xuất thế giới năm 2009; 
  • 10. Phát hiện sắc chỉ quý liên quan đến Hoàng Sa.
-->đọc tiếp...

24 tháng 12, 2009

very nice Template for joomla v1.5

Some temp many people interested in 2009

Templates Demo:
http://demo.rockettheme.com/jan09/
http://demo.gavickpro.serwery.pl/joomla15/jan2009/
http://template15.joomlart.com/ja_cooper/
http://demo.templateplazza.net/freelance_plazza/

http://demo.yootheme.com/feb09/
http://demo.rockettheme.com/feb09/
http://template15.joomlart.com/ja_quartz/
http://praise.joomlapraise.com/

http://estate.joomlapraise.com/
http://www.shape5.com/demo/new_architect/
http://www.joomlajunkie.com/dark-rational/
http://demo.icetheme.com/index.php?template=it_newsy

http://demo.icetheme.com/index.php?template=it_motion
http://demo.icetheme.com/index.php?template=it_together
http://www.shape5.com/demo/city_portal/
http://demo.gavickpro.serwery.pl/joomla15/dec2008/

download here:
http://www.mediafire.com/?e49coio01jn
password unrar: vnfreezone.com
-->đọc tiếp...

23 tháng 12, 2009

Fix IE6 Double Margin bug

Author: Alessandro Coscia

The problem

IE6 is famous for its 'ie6 double margin bug'.
It occurs when you use float boxes. In certain cases the margin will redouble.

You can find more info about this bug to Position is Everything.

Solutions

There are several solutions:
  • Hack one-half margin value for IE/win only
  • Set display: inline
  • Use jquery.fixDoubleMargin.js (compatible with prototype, mootools and scriptaculous!!!)

Solution: Use jquery.fixDoubleMargin.js

I wrote this plugin to solve this problem.
It is very simple to use: include the libraries between head tag
My Code:
<script src="js/jquery-1.3.2.min.js" type="text/javascript"></script>
<script src="js/jquery.fixDoubleMargin.js" type="text/javascript"></script>
<script src="js/jqbrowser-uncompressed.js" type="text/javascript"></script>
using it:
<script>
var $j = jQuery.noConflict();
$j('document').ready(function () {
$j('div').fixDoubleMargin();
});
</script>
other method:
CSS fix for the double margin float bug in IE6
Using display:inline is cross-browser friendly. Floated elements are treated as block-level by all browsers and specifying something like:
div
{
display:inline; /* cancel IE double margin bug */
float:left;
margin-left:20px;
}

…should work fine in all browsers.
-->đọc tiếp...

Fix IE6 Double Margin(Box Model Hack) bug

Box Model Hack
Author: Alessandro Coscia
The problem
IE doesn't implement the correct (standard) box model, so box appears with different dimensions in different browsers.
W3C's standard explains the correct model to adopt: Box Model.
This is a good image (coming from Wikipedia) to understand the problem:

Solutions
There are some solutions: Hack one-half margin value for IE/win only
Set display: inline
Use jquery.fixBoxModel.js (compatible with prototype, mootools and scriptaculous!!!)
Solution: Use jquery.fixBoxModel.js
I wrote this plugin to solve this problem.
Solution: Use jquery.fixBoxModel.js
I wrote this plugin to solve this problem.
It is very simple to use: include the libraries between <head>
<script src="js/jquery-1.3.2.min.js" type="text/javascript"></script>
<script src="js/jquery.fixBoxModel.js" type="text/javascript"></script>
code using:
<script>
  var $j = jQuery.noConflict();
  $j('document').ready(function () {
    $j('div').fixBoxModel();
  });
</script>
detail here
http://www.programmatorephp.it/jquery/ie6-double-margin-hack.php
-->đọc tiếp...

22 tháng 12, 2009

Những câu nói đơn giản thường ngày!!!

Say cheese! Cười lên nào ! (Khi chụp hình)

Be good! Ngoan nha! (Nói với trẻ con)

Bottom up! 100% nào! (Khi…đối ẩm)

Me? Not likely! Tôi hả? Không đời nào!

Scratch one’s head Nghĩ muốn nát óc

Take it or leave it! Chịu thì lấy, không chịu thì thôi! Hell with haggling! Thây kệ nó!

Mark my words! Nhớ lời tôi đó!

What a relief! Đỡ quá!

Enjoy your meal! Ăn ngon miệng nha!

It serves you right! Đang đợi cậu!

The more, the merrier! Càng đông càng vui ^_^ (Especially when you're holding a party: đặc biệt khi bạn đang trong bữa tiệc)

Boys will be boys! nó chỉ là trẻ con thôi mà!

Good job! = well done! Làm tốt lắm!

Just for fun! Cho vui thôi

Try your best! Cố gắng lên(câu này chắc ai cũng biết)

Make some noise! Sôi nổi lên nào!

Congratulations! Chúc mừng!

Rain cats and dogs - Mưa tầm tã

Love me love my dog - Yêu em yêu cả đường đi, ghét em ghét cả tông ty họ hàng

Strike it - Trúng quả

Alway the same - Trước sau như một

Hit it off - Tâm đầu ý hợp

Hit or miss - Được chăng hay chớ

Add fuel to the fire - Thêm dầu vào lửa

To eat well and can dress beautyfully - Ăn trắng mặc trơn

Don't mention it! = You're welcome = That's allright! = Not at all - Không có chi

Just kidding - Chỉ đùa thôi

No, not a bit - Không chẳng có gì

Nothing particular! Không có gì đặc biệt cả

After you - Bạn trước đi

Have I got your word on that? Tôi có nên tin vào lời hứa của anh không?

The same as usual! Giống như mọi khi

Almost! Gần xong rồi

You 'll have to step on it - Bạn phải đi ngay

I'm in a hurry Tôi đang bận

Sorry for bothering! Xin lỗi vì đã làm phiền

Give me a certain time! Cho mình thêm thời gian Prorincial! Sến

Decourages me much! Làm nản lòng

It's a kind of once-in-life! Cơ hội ngàn năm có một

The God knows! Chúa mới biết được

Women love through ears, while men love through eyes! Con gái yêu bằng tai, con trai yêu bằng mắt.

Poor you/me/him/her...! tội nghiệp bạn/tôi/cậu ấy/cô ấy


( Nguồn: Mr Vinh )
-->đọc tiếp...

Nhìn lại bản thân trong quá trình học ngoại ngữ (Phần kết)

Kết luận:

Tôi đã bắt đầu gợi ý nghe tiếng Anh để rồi đi đến vấn đề ‘nghe’ tiếng Anh. Tuy nhiên, tôi lặp lại, những gì tôi nói chỉ là lý thuyết, và không có lý thuyết nào có thế làm cho bạn nghe được tiếng Anh. Cách duy nhất ấy là bạn phải tự mình nghe và rút ra những phương pháp thích hợp với xu hướng, kinh nghiệm và sở thích của mình.

Qua loạt bài này, tôi luôn đả phá cách nghe dựa trên viết và dịch. Thế nhưng, những điều tôi cho là trở ngại, nhiều khi lại có ích cho bạn, vì những thứ ấy không cản trở mà còn giúp bạn những cột móc để bám vào. Vâng. Nếu các bạn thấy việc đọc script, hoặc học từ vựng, hoặc viết thành câu và tra từ điển – như vẫn làm từ trước đến nay – giúp cho bạn nghe và hiểu nhanh hơn thì cứ sử dụng phương pháp của mình. Tôi chỉ nhắc lại một điều này:

Tất cả những trợ giúp đó cũng giống như chiếc phao cho người tập bơi. Khi tập bơi, nhiều người cần có một cái phao để bám vào cho dễ nổi, từ đó bạo dạn xuống nước mà tập bơi. Và không ít người bơi giỏi đã khởi sự như thế. Bạn cũng vậy, có thể những cách nghe từ trước đến giờ (nhìn script – học từ – kiểm tra văn phạm) giúp bạn những cột chắc chắn để bám vào mà nghe. Vậy thì xin nhớ rằng: Chiếc phao giúp cho bạn nổi, nhưng không giúp cho bạn biết bơi. Đến một giai đoạn nào đó, chính chiếc phao lại cản trở bạn và không cho bạn bơi thoải mái.

Hãy vứt cái phao sớm chừng nào hay chừng nấy, nếu không nó trở thành một trở ngại cho bạn khi bạn muốn bơi nhanh và xa. Hãy vứt những chữ viết khi nghe nói, nhanh chừng nào hay chừng ấy, nếu không chúng sẽ cản trở bạn và bạn không bao giờ thực sự ‘nghe’ được tiếng Anh!

(Theo DVDdoc)

Đây là tài liệu sưu tầm được trên mạng thấy hay nên để vào blog mình để dễ tìm kiếm nhé. Mình không có đủ trình độ để viết được bài hay như thế này. Thanks tác giả đã chia sẽ kinh nghiệm học tiếng anh rất hay và bổ ích.
-->đọc tiếp...

Nhìn lại bản thân trong quá trình học ngoại ngữ (Phần III)

Phần III:

Hai phần trên, tôi nói về việc nghe ‘âm thanh’ của tiếng Anh, có nghĩa là làm sao phân biệt được các âm với nhau đến nỗi, dù không hiểu câu ấy nói gì, cũng có thể lặp lại đúng lời người ta nói ra (câu càng dài thì kỹ năng nghe của mình càng cao). Dĩ nhiên, có những người được ‘lỗ tai âm nhạc’ thiên phú nên phân biệt âm thanh rất nhanh. Ví dụ em Wendy Võ, một nhi đồng gốc Việt tại North Carolina (tên Việt Nam là Võ thị Ngọc Diễm). Năm nay em mới 8 tuổi mà đã nói được 11 thứ tiếng và soạn 45 bản nhạc. Em có khả năng lặp lại một câu nói bằng bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới, mà không cần hiểu nghĩa. Thế nhưng thường thường, người ta phải mất nhiều thời gian để phân biệt các âm trong một ngôn ngữ mới, tuy nhiên TẤT CẢ MỌI NGƯỜI đều có khả năng này, bằng chứng là không một người nào trên trái đất (trừ người điếc) là không thể nghe và nói ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.

Nếu thời gian qua, các bạn đã lắng nghe âm thanh tiếng Anh thôi, thì đến nay, hẳn bạn đã nhận thấy rằng bỗng dưng có một số từ hay cụm từ mình nghe rõ ràng hơn xưa, đặc biệt là những con số và những danh từ riêng (của các nhân vật, các địa danh … ), và những từ mình đã quen thuộc. Có những đoạn bạn nghe một thời gian dài 5-15 phút (như trên TV) rồi bỗng thấy mình ‘hiểu’ cơ bản nội dung chương trình đó.

Như thế là các bạn đã nghe tiếng Anh. Nhưng dù muốn dù không, khi nghe một ngôn ngữ mà chỉ nghe âm thanh thôi, thì cũng giống như mình nghe nhạc (không lời), hay nghe tiếng gió, tiếng chim. Nếu chỉ nghe như thế thì không đáng bỏ công, vì ngôn ngữ cốt là để truyền tin (truyền một thông tin). Nếu ta không nắm được thông tin bên dưới âm thanh phát ra bằng tiếng Anh, thì kể như chúng ta không ‘nghe’ được tiếng Anh. Vì thế, điều chúng ta cần học lại trước hết là nghe tiếng Anh (như một âm thanh thuần túy) để tiến đến bước sau cùng (mà bình thường người học ngoại ngữ xem là bước đầu tiên), ấy là ‘nghe’ tiếng Anh, theo nghĩa là ‘hiểu’ một thông tin.

Vì thế, sau hai bài để nói về cách nghe tiếng Anh, hôm nay tôi sẽ đi sâu hơn, ấy là ‘nghe’ tiếng Anh, theo nghĩa là nắm bắt nội dung của thông tin qua một chuỗi âm thanh bằng tiếng Anh.

Nghe tiếng Anh và ‘nghe’ tiếng Anh

1. ‘Nghe’ trong ngữ cảnh. Tôi từng nhắc đi nhắc lại rằng đừng bao giờ tra từ điển khi mình nghe một diễn từ. Điều chủ yếu là nghe và lặp lại được những âm thanh đã nghe, rồi dần dần hiểu được một từ mới, khi nó xuất hiện trong nhiều nội dung khác nhau (nếu cả năm mình mới nghe từ đó một lần, có nghĩa là từ ấy không thông dụng và, trong giai đoạn này, ta không cần phải bận tâm đến nó!). Ví dụ: bạn nghe nhiều lần (âm thanh) ‘oubou’ mà không hiểu nghĩa, lần lượt trong những câu sau:

- To play the ‘oubou’ you need to have strong arms. – The ‘oubou’ is considered one of the most difficult instruments to play. – The ‘oubou’ is very difficult to play, because Karen must force air at very high pressure into the tiny double reed.

Lần đầu tiên, bạn chẳng biết âm ‘oubou’ chỉ cái gì, nhưng vì đi với play nên bạn đoán rằng đó là một cái gì để ‘chơi’. Như thế là đã ‘hiểu’ một cách tổng quát. Lần 2, với từ ‘instrument’ bạn biết rằng đó là cái để ‘chơi’ nhưng không phải là trong thể thao, mà là trong âm nhạc. Lần thứ ba, với cụm từ ‘must force air’ thì ta biết rằng đó là một nhạc cụ thổi hơi (khí nhạc) chứ không phải là nhạc cụ dây hay gõ… Và ta tạm hiểu như thế, mà không cần biết phải viết thế nào, cho đến khi đọc câu sau (chẳng hạn): The oboe looks very similar to the clarinet, but sounds very different! Thế là ta biết được rõ ràng đó là một nhạc khí tương tự như clarinet, và từ mà ta nghe là ‘oubou’ thì được viết là oboe (và ta đọc đúng ngay chứ không cần phải tra từ điển!)

Ps: Đây cũng là vấn đề ‘hiểu’ một từ. Chúng ta có cảm giác rằng nếu dịch được tiếng ấy ra là ta hiểu ngay, thế nhưng không có gì sai cho bằng. Nếu bạn học theo quá trình ngược, nghĩa là khởi sự biết từ ấy dưới dạng chữ viết, bạn sẽ tra từ điển và đọc là: kèn ô-boa! Bạn thấy hài lòng vì mình đã hiểu! Nhưng thực ra, nếu bạn không phải là một nhạc sĩ, thì ‘kèn ô-boa’ cũng chẳng thêm gì trong kiến thức bạn. Ngay trong tiếng mẹ đẻ, ta có thể hài lòng với khái niệm mơ hồ về một từ, nhưng khi học ngoại ngữ thì ta có cái cảm giác sai lầm là phải trở lại với từ mẹ đẻ mới gọi là hiểu. Đối với tôi, nightingale là một loại chim có tiếng hót hay và thường hót vào ban đêm, còn có dịch ra là ‘sơn ca’ hay ‘họa mi’ thì cũng bằng thừa, vì tôi chưa bao giờ thấy và biết chim ‘sơn ca’ hay ‘họa mi’. Thậm chí không biết là có phải một loài chim hay hai loài chim khác nhau, vì cả hai từ đều được dịch là nightingale.

2. Nghe trong toàn bộ bối cảnh. Ta thường nghĩ rằng: ‘một từ thì có một nghĩa nhất định’. Hoàn toàn sai. – Thử tra từ ‘tiêu cực’ trong từ điển: negative. Như thế, ‘một cán bộ tiêu cực’ phải được dịch là ‘a negative cadre’! Nếu cụm từ tiếng Việt có ý nghĩa rõ ràng thì cụm từ dịch ra tiếng Anh (như trên) là hoàn toàn vô nghĩa! Nói cách khác: khi người Anh nói ‘negative’, thì người Việt hiểu là ‘tiêu cực’; nhưng khi người Việt nói ‘tiêu cực’, thì người Anh không thể hiểu là ‘negative.’

– Từ đó ta không thể nào hiểu đúng nghĩa một từ tiếng Anh nếu không đặt vào trong bối cảnh của nó. Ví dụ: nếu không để ý rằng câu chuyện xảy ra ở Anh hay ở Mỹ, thì khi nghe từ corn ta có thể hiểu sai: Ở Anh là lúa mì, và ở Mỹ là bắp!

Nếu thấy một người mở nắp bình xăng lên mà nói ‘Oh my! No more gas’ thì ta hiểu ngay rằng ‘gas’ chính là ‘xăng’, mặc dù trước đó mình có thể học: petrol hay gasoline mới là xăng, còn gas có nghĩa là khí đốt!

Mà nhiều khi bối cảnh rõ đến nỗi, người ta dùng một từ sai mình cũng hiểu đúng. Bạn cứ thử đến cây xăng, mở bình và nói: đổ cho tôi 30.000 dầu! Tôi cam đoan là người ta không thắc mắc gì cả và sẽ đổ XĂNG chứ không đổ DẦU vào xe bạn; cao lắm là trong 100 lần, thì một lần người ta nhắc lại: đổ xăng phải không? Bạn nói là Dầu người ta vẫn hiểu là Xăng. Và trong tiếng Anh cũng thế! Bạn sẽ hiểu một từ trong toàn bộ bối cảnh của nó.

3. Nghe với tất cả giai điệu của câu. Trong phần đầu tôi nói rằng khi ‘nghe’ một câu, chủ yếu là làm sao nắm bắt được thông tin của chuỗi âm thanh ấy. Nói cách khác, ngôn ngữ có nhiệm vụ là truyền tin. Nhưng ngoài nhiệm vụ truyền tin thì còn một nhiệm vụ thứ hai, vô cùng quan trọng, ấy là nhiệm vụ truyền cảm (truyền một tình cảm). Một câu nói giao tiếp hằng ngày, luôn chuyển tải một phần của thất tình (= bảy tình cảm con người, chứ không phải là bị tình phụ đâu: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục). Vì thế, cao độ, tốc độ, cường độ của câu nói, trường độ (độ dài) và dấu nhấn của một từ, có thể là điều mình cần phải ‘nghe’ cùng một lúc với các âm thanh được phát ra, thậm chí nghe âm điệu là chính. Nếu không thì ta hiểu sai, hoặc không hiểu gì cả. Đừng tưởng rằng khi ta nghe được từ ‘hate’ là ta hiểu ngay: ghét! Vì dụ nghe một cô gái nói với một cậu trai: I hate you! Câu này không phải lúc nào cũng là ‘Em ghét anh‘! Nói với một ngữ điệu nào đó thì có thể hiểu là: Tôi căm thù anh; hay Thôi, để tôi yên; hay Anh làm tôi bực mình; hoặc trái lại: Anh làm em cảm động quá; thậm chí: Em yêu anh quá chừng chừng!

Và cách nhấn câu cũng thế. Ví dụ trong câu sau đây: I didn’t say Paul stole my watch! Nếu người nói nhấn mạnh các từ theo 7 cách khác nhau, mỗi cách nhấn một từ ( I – didn’t – say – Paul – stole – my – watch ) thì nghĩa sẽ khác nhau hoàn toàn: I didn’t say Paul stole my watch! (Somebody else said that!) I didn’t say Paul stole my watch! (No! I didn’t act like that) I didn’t say Paul stole my watch! (I disclosed by another way, but I didn’t SAY) v.v

Khi học tiếng Việt, chúng ta nghe toàn bộ giai điệu, nên nghe (và nói) đúng cao độ của một từ (đúng các dấu); thế nhưng khi một người nước ngoài học tiếng Việt, chúng ta phải khổ công giải thích cho họ lên giọng, xuống giọng, uốn giọng như thế nào để nói các dấu sắc, huyền, nặng, hỏi – ngã (do học nghe bằng tai nên người Nam và người Trung đồng hóa ? và ~, trong khi người Bắc phân biệt chúng rõ ràng). Vì thế, ngược lại, khi nghe tiếng Anh, cần phải nghe toàn bộ âm điệu để nắm bắt những tình cảm bên dưới câu nói.

Nghe với cả giai điệu, mình sẽ hiểu (và sau này sẽ dùng) những câu hay thành ngữ một cách chính xác như người bản ngữ, mà không cần phải dịch ra. Ví dụ: các câu ngắn như: Oh my God! Look at this! Hoặc No way! Hoặc You’re joking/kidding! Với giọng điệu khác nhau, những câu nói hằng ngày đó có thể được hiểu là một tiếng khen hay chê, thán phục hay thất vọng, bằng lòng hay bất bình, chấp thuận hay từ chối!

Và từ đó, mình sẽ biết đối xử khi dùng tiếng Anh cho đúng nghĩa, chứ không chỉ đúng văn phạm. Ví dụ, khi tiếp một nhân vật quan trọng đến công ty bạn, bạn chuẩn bị nói một câu mời rất trân trọng và đúng nghi thức (formal): Would you please take a seat? Thế nhưng bạn căng thẳng đến độ nói theo một âm điệu nào đó khiến người kia bực mình với bạn (mà bạn không hề biết), vì ngỡ rằng bạn diễu cợt người ta! Thế là hỏng cả một cuộc đàm phán. Thà rằng bạn nói đơn sơ: Sit down! Với một giọng hòa nhã, thái độ tôn trọng, cử chỉ lịch thiệp và nụ cười nồng hậu, thì không ai lầm bạn! Trái lại, nói câu rất formal trên kia, với thái độ căng thẳng và giọng nói cộc lốc (vì sợ nói sai!), thì tai hại hơn nhiều.

4. Nghe với những gì một từ bao hàm. Ngôn ngữ dùng để truyền tin, nhưng đồng thời cũng truyền cảm. Vì thế, mỗi danh từ vừa chỉ định một cái gì cụ thể (denotation), vừa kèm theo một tình cảm (connotation). Các từ this gentleman, this man, this guy, this rascal đều có một denotation như nhau là một người nam nào đó, nhưng connotation thì hoàn toàn khác; cũng như đối với một người nữ nào đó ta có thể dùng: a lady, a woman, a girl, a whore. Cùng một từ như communism chẳng hạn. Đối với một đảng viên đảng Cộng Sản hay một cảm tình viên, thì từ ấy gợi lên bao nhiêu điều dịu dàng cao đẹp, còn đối với người chống cộng, thì từ ấy gợi lên bao nhiêu điều xấu xa, độc ác! Trong khi denotation của nó chỉ là một triết thuyết như trăm ngàn thuyết thuyết khác, mà dù thích dù không, người ta cũng phải dùng để chỉ định triết thuyết do Karl Marx đề ra! Từ đó, câu nói ‘You’re a communist!‘ có thể là một lời khen nồng ấm hoặc là một lời chỉ trích thậm tệ, tùy theo connotation của nó.

Khi học tiếng Anh, muốn nâng cao vốn từ vựng thì ta cố học nhiều từ đồng nghĩa (synonyms). Thế nhưng, không bao giờ có synonyms đích thực cả: chỉ tương đương trong denotation chứ connotation hoàn toàn khác (và cũng vì thế mà không bao giờ có hai từ hoàn toàn có nghĩa giống nhau ở hai ngôn ngữ khác nhau: father/mother không hoàn toàn là cha/mẹ – và daddy/mummy không hoàn toàn là ba/má; vì tình cảm đính kèm với các từ ấy khác hẳn giữa người Việt và người Anh). “Nghe” tiếng Anh, chính là biết nghe những connotations trong các thuật ngữ mình nghe.

Cho đến nay, tôi chỉ đề nghị các bạn nghe tin tức. Nhưng đó là giai đoạn nghe để quen với các âm. Trong giai đoạn ‘nghe’ tiếng Anh này, phải bớt giờ nghe tin tức mà xem phóng sự hoặc các phim truyện. Trên thế giới, các speakers của các chương trình tin tức buộc phải nói với thái độ neutral, nghĩa là không được dùng từ kèm theo tình cảm, và không được xử lý âm điệu để bộc lộ tình cảm của mình, vì thế họ nói rất dễ nghe, nhưng chỉ nghe tin tức thôi thì ta bỏ sót một phần khá chủ yếu trong tiếng Anh.

(Trái lại thông tín viên Việt Nam nhiều khi chưa làm chủ được tình cảm mình trong quá trình đọc một bản tin, và người ta thấy ngay là thông tín viên vui mừng hay bực tức, tán đồng hay bất đồng, với nội dung bản tin mình đọc. Còn người viết bản tin thì dùng những từ có connotation: ví dụ trước kia, khi nói đến một tổng thống Mỹ thì bao giờ cũng là ‘tên Kennedy’ hoặc ‘tên tổng thống Kennedy’. Còn hiện nay thì ‘Ngài tổng thống Bush’, mà ít khi nói một cách trung lập: Tổng Thống G. Bush. Trong khi đó, hầu như không bao giờ nghe trong một bản tin: ‘Cố chủ tịch Hồ Chí Minh’, mà lúc nào cũng là ‘Bác Hồ’. Thuật ngữ ‘Bác Hồ’ mặc nhiện tiềm ẩn một tình yêu thương và kính trọng đến độ cụm từ ‘cố chủ tịch Hồ Chí Minh’, vốn là một cụm từ neutral, lại trở thành một cụm từ ‘thất kính, xem thường’ đối với ‘Chủ tịch Hồ Chí Minh’!)

5. Nghe bằng trái tim để cảm điều họ cảm. Và cuối cùng, đối với các bạn muốn đi thật sâu vào tiếng Anh, thì có thể phối hợp tất cả các kỹ năng để hiểu những điều tiềm tàng bên dưới ngôn ngữ giao tiếp; và điều này hướng đến cách nghe văn học. Mọi ngôn ngữ đều gợi lên một cái gì đó vượt lên trên từ ngữ. Vì thế, thi ca là một ngôn ngữ đặc biệt. Người Việt nào, dù thích hay không thích, vẫn cảm được ngôn ngữ của thi ca. Do đó, muốn nâng cao kỹ năng ‘nghe’ tiếng Anh của mình thì cần tập nghe những bài thơ. Cho đến nay, khó tìm những bài thơ audio, nhưng không phải là không có. Tập nghe đọc thơ, dần dần, chúng ta sẽ cảm được cái tinh túy của tiếng Anh, từ đó ta cảm được vì sao cùng một tư tưởng mà diễn đạt cách này thì ‘hay’ hơn cách kia. Bấy giờ ta mới có quyền nói: tôi đã ‘nghe’ được tiếng Anh.

Ví dụ, khi muốn người ta cảm nhận tiếng gió mùa thu, thì Xuân Diệu đã sử dụng âm ‘r’ trong bài “Đây Mùa Thu Tới”: Những luồng run rẩy rung rinh lá

Tương tự như vậy Robert L. Stevenson viết trong The Wind I saw you toss the kites on high And blow the birds about the sky; And all around I heard you pass, Like ladies’ skirts across the grass.. Tác giả đã làm cho ta cảm được làn gió hiu hiu với các âm ‘r’ và ‘s’ nối tiếp và quyện vào nhau trong câu cuối, kèm với hình ảnh độc đáo của váy các mệnh phụ lướt qua trên cỏ (điều mà người Việt Nam hoàn toàn không có kinh nghiệm, vì mọi nét yêu kiều đều gắn liền với tà áo dài).
-->đọc tiếp...

Nhìn lại bản thân trong quá trình học ngoại ngữ (Phần II)

Phần II:

Khi tôi bảo rằng chúng ta gặp trở ngại khi học ngoại ngữ vì thông minh và có nhiều kinh nghiệm, có người cho rằng đó là nói theo nghĩa bóng. Không phải đâu, tôi nói theo nghĩa đen đó! Qua sự kiện sau (và ACE chắc chắn cũng từng gặp những trường hợp tương tự) ACE sẽ thấy ngay. Một người bạn từng dạy Anh Văn ở Trung Tâm Ngoại Ngữ với tôi, sau này sang định cư ở Mỹ. Anh cùng đi với đứa con 7 tuổi, chưa biết một chữ tiếng Anh nào. 11 năm sau tôi gặp lại hai cha con tại Hoa Kỳ. Con anh nói và nghe tiếng Anh không khác một người Mỹ chính cống. Trong khi đó anh nói tiếng Anh tuy lưu loát hơn xưa, nhưng rõ ràng là một người nước ngoài nói tiếng Mỹ. Khi xem chương trình hài trên TV, con anh cười đúng với tiếng cười nền trong chương trình, trong khi đó anh và tôi nhiều khi không hiểu họ nói gì đáng cười: rõ ràng là kỹ năng nghe của con anh hơn anh rồi! Điều này chứng tỏ rằng khi sang Mỹ, anh đã có kinh nghiệm về tiếng Anh, và ‘khôn’ hơn con anh vì biết nhiều kỹ thuật, phương pháp học tiếng Anh, nên tiếp tục học tiếng Anh theo tiến trình phản tự nhiên; trong khi con anh, vì không ‘thông minh’ bằng anh, và thiếu kinh nghiệm, nên đã học tiếng Anh theo tiến trình tự nhiên mà không theo một phương pháp cụ thế nào để học vocabulary, grammar, listening, speaking cả.

- Đi vào cụ thể từ vựng Anh.
(Những phân tích sau đây là để thuyết phục ACE đi vào tiến trình tự nhiên – và điều này đòi hỏi phải xóa bỏ cái phản xạ lâu ngày của mình là học theo tiến trình ngược – và công việc xóa bỏ cái phản xạ sai này lại làm cho ta mất thêm thì giờ. ACE đọc để tin vào tiến trình tự nhiên, chứ không phải để nhớ những phân tích ‘tào lao’ này, khiến lại bị trở ngại thêm trong quá trình nâng cao kỹ năng của mình)

- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe nguyên âm: Tiếng Anh là tiếng phụ âm.
Tiếng Anh chủ yếu là ngôn ngữ đa âm: một từ thường có nhiều âm. Lỗ tai chúng ta đã ‘bị điều kiện hóa’ để nghe âm tiếng Việt. Tiếng Việt là loại tiếng đơn âm, vì thế, mỗi tiếng là một âm và âm chủ yếu trong một từ là nguyên âm. Đổi một nguyên âm thì không còn là từ đó nữa: ‘ma, mi, mơ’ không thể hoán chuyển nguyên âm cho nhau, vì ba từ có ba nghĩa hoàn toàn khác nhau. Mặc khác, tiếng Việt không bao giờ có phụ âm cuối từ. Ngay cả những chữ mà khi viết có phụ âm cuối, thì người việt cũng không đọc phụ âm cuối; ví dụ: trong từ ‘hát’, nguyên âm mới là ‘át’, h(ờ)-át, chứ không phải là h(ờ)-á-t(ơ), trong khi đó từ ‘hat’ tiếng Anh được đọc là h(ờ)-a-t(ờ), với phụ âm ‘t’ rõ ràng.

Trong tiếng Việt hầu như không có những từ với hai phụ âm đi kế tiếp (ngoài trừ ch và tr – nhưng thực ra, ch và tr cũng có thể thay bằng 1 phụ âm duy nhất) vì thế, tai của một người Việt Nam – chưa bao giờ làm quen với ngoại ngữ – không thể nhận ra hai phụ âm kế tiếp. Do đó, muốn cho người Việt nghe được một tiếng nước ngoài có nhiều phụ âm kế tiếp, thì phải thêm nguyên âm (ơ) vào giữa các phụ âm; ví dụ: Ai-xơ-len; Mat-xơ-cơ-va.

Với kinh nghiệm (phản xạ) đó, một khi ta nghe tiếng Anh, ta chờ đợi nghe cho đủ các nguyên âm như mình NHÌN thấy trong ký âm (phonetic signs), và không bao giờ nghe được cả. Ví dụ: khi học từ America ta thấy rõ ràng trong ký âm: (xin lỗi vì không thể ghi phonetic signs vào trang này) ‘ơ-me-ri-kơ’, nhưng không bao giờ nghe đủ bốn âm cả, thế là ta cho rằng họ ‘nuốt chữ’. Trong thực tế, họ đọc đủ cả, nhưng trong một từ đa âm (trong khi viết) thì chỉ đọc đúng nguyên âm ở dấu nhấn (stress) – nếu một từ có quá nhiều âm thì thêm một âm có dấu nhấn phụ (mà cũng có thể bỏ qua) – và những âm khác thì phải đọc hết các PHỤ ÂM, còn nguyên âm thì sao cũng đưọc (mục đích là làm rõ phụ âm). Có thể chúng ta chỉ nghe: _me-r-k, hay cao lắm là _me-rơ-k, và như thế là đủ, vì âm ‘me’ và tất cả các phụ âm đều hiện diện. Bạn sẽ thắc mắc, nghe vậy thì làm sao hiểu? Thế trong tiếng Việt khi nghe ‘Mỹ’ (hết) không có gì trước và sau cả, thì bạn hiểu ngay, tại sao cần phải đủ bốn âm là ơ-mê-ri-kơ bạn mới hiểu đó là ‘Mỹ’? Tóm lại: hãy nghe phụ âm, đừng chú ý đến nguyên âm, trừ âm có stress!

Một ví dụ khác: từ interesting! Tôi từng được hỏi, từ này phải đọc là in-tơ-res-ting hay in-tơ-ris-ting mới đúng? Chẳng cái nào đúng, chẳng cái nào sai cả. Nhưng lối đặt vấn đề sai! Từ này chủ yếu là nói ‘in’ cho thật rõ (stress) rồi sau đó đọc cho đủ các phụ âm là người ta hiểu, vì người bản xứ chỉ nghe các phụ âm chứ không nghe các nguyên âm kia; nghĩa là họ nghe: in-trstng; và để rõ các phụ âm kế tiếp thì họ có thể nói in-tr(i)st(i)ng; in-tr(ơ)st(ơ)ng; in-tr(e)st(ư)ng. Mà các âm (i) (ơ), để làm rõ các phụ âm, thì rất nhỏ và nhanh đến độ không rõ là âm gì nữa. Trái lại, nếu đọc to và rõ in-tris-ting, thì người ta lại không hiểu vì dấu nhấn lại sang ‘tris’!

Từ đó, khi ta phát âm tiếng Anh (nói và nghe là hai phần gắn liền nhau – khi nói ta phát âm sai, thì khi nghe ta sẽ nghe sai!) thì điều tối quan trọng là phụ âm, nhất là phụ âm cuối. Lấy lại ví dụ trước: các từ fire, fight, five, file phải được đọc lần lượt là fai-(ơ)r; fai-t(ơ); fai-v(ơ), và fai-(ơ)l, thì người ta mới hiểu, còn đọc ‘fai’ thôi thì không ai hiểu cả.

Với từ ‘girl’ chẳng hạn, thà rằng bạn đọc gơ-rôl / gơ-rơl (dĩ nhiên chỉ nhấn gơ thôi), sai hẳn với ký âm, thì người ta hiểu ngay, vì có đủ r và l, trong khi đó đọc đúng ký âm là ‘gơ:l’ hay bỏ mất l (gơ) thì họ hoàn toàn không hiểu bạn nói gì; mà có hiểu chăng nữa, thì cũng do context của câu chứ không phải là do bạn đã nói ra từ đó.

- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe âm Việt.
Các nguyên âm Việt và Anh không hề giống nhau. Một âm rất rõ trong tiếng Anh sẽ rất nhoè với một lỗ tai người Việt, và một âm rất rõ trong tiếng Việt thì rất nhoè trong lỗ tai người Anh (người bản xứ nói tiếng Anh). Ví dụ: Khi bạn nói: “Her name’s Hương!” Bạn đọc từ Hương thật rõ! Thậm chí la lên thật to và nói thật chậm thì người ấy vẫn không nghe ra. Vì ‘ươ’ đối với họ là âm rất nhoè. Nhưng nói là ‘Hu-ôn-gh(ơ)’ họ nghe rõ ngay; từ đó ta phải hiểu họ khi nói đến cô Huôngh chứ đừng đòi hỏi họ nói tên Hương như người Việt (phải mất vài năm!).

Tương tự như vậy, không có nguyên âm tiếng Anh nào giống như nguyên âm tiếng Việt. Nếu ta đồng hóa để cho dễ mình, là ta sẽ không nghe được họ nói, vì thế giới này không quan tâm gì đến cách nghe của người Việt Nam đối với ngôn ngữ của họ. Ví dụ: âm ‘a’ trong ‘man’ thì không phải là ‘a’ hay ‘ê’ hay ‘a-ê’ hay ‘ê-a’ tiếng Việt, mà là một âm khác hẳn, không hề có trong tiếng Việt. Phải nghe hàng trăm lần, ngàn lần, thậm chí hàng chục ngàn lần mới nghe đúng âm đó, và rất rõ! Ấy là chưa nói âm ‘a’ trong từ này, được phát âm khác nhau, giữa một cư dân England (London), Scotland, Massachusetts (Boston), Missouri, Texas!

Cũng thế, âm ‘o’ trong ‘go’ không phải là ‘ô’ Việt Nam, cũng chẳng phải là ô-u (như cách phiên âm xưa) hay ơ-u (như cách phiên âm hiện nay), lại càng không phài là ‘âu’, mà là một âm khác hẳn tiếng Việt. Phát âm là ‘gô’, ‘gơu’ hay ‘gâu’ là nhoè hẳn, và do đó những từ dễ như ‘go’ cũng là vấn đề đối với chúng ta khi nó được nói trong một câu dài, nếu ta không tập nghe âm ‘ô’ của tiếng Anh đúng như họ nói. Một âm nhoè thì không có vấn đề gì, nhưng khi phải nghe một đoạn dài không ngưng nghỉ thì ta sẽ bị rối ngay.

Đây cũng là do một kinh nghiệm tai hại xuất phát từ việc tiếp thu kiến thức. Trong quá trình học các âm tiếng Anh, nhiều khi giáo viên dùng âm Việt để so sánh cho dễ hiểu, rồi mình cứ xem đó là ‘chân lý’ để không thèm nghĩ đến nữa. Ví dụ, muốn phân biệt âm (i) trong sheep và ship, thì giáo viên nói rằng I trong sheep là ‘I dài’ tương tự như I trong tiếng Bắc: ít; còn I trong ship là I ngắn, tương tự như I trong tiếng Nam: ít – ích. Thế là ta cho rằng mình đã nghe được I dài và I ngắn trong tiếng Anh rồi, nhưng thực chất là chưa bao giờ nghe cả! Lối so sánh ấy đã tạo cho chúng ta có một ý niệm sai lầm; thay vì xem đấy là một chỉ dẫn để mình nghe cho đúng âm, thì mình lại tiếp thu một điều sai! Trong tiếng Anh không có âm nào giống âm I bắc hoặc I nam cả! Bằng chứng: ‘eat’ trong tiếng Anh thì hoàn toàn không phải là ‘ít’ trong tiếng Việt, đọc theo giọng bắc, và ‘it’ trong tiếng Anh hoàn toàn không phải là ‘ít’ trong tiếng Việt, đọc theo giọng nam! Vì thế, phải xóa bỏ những kinh nghiệm loại này, và phải nghe trực tiếp thôi!

- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe bằng chữ viết.
Nếu ta hỏi một em bé: cháu nghe bằng gì? Thì nó sẽ trả lời: Nghe bằng tai! Nếu ta bảo: “Cháu phải nghe bằng mắt cơ!” Chắc em bé tưởng ta … trêu cháu! Thế nhưng điều xảy ra cho nhiều người học tiếng nước ngoài là Nghe Bằng Mắt!

Thử nhìn lại xem. Trong giai đoạn đầu tiếp xúc với tiếng Anh, khi ta nghe một người nói: “I want a cup of coffee!”. Tức tốc, chúng ta thấy xuất hiện câu ấy dưới dạng chữ Viết trong trí mình, sau đó mình dịch câu ấy ra tiếng Việt, và ta HIỂU! Ta Nghe bằng MẮT, nếu câu ấy không xuất hiện bằng chữ viết trong đầu ta, ta không Thấy nó, thì ta … Điếc!

Sau này, khi ta có trình độ cao hơn, thì ta hiểu ngay lập tức chứ không cần phải suy nghĩ lâu. Thế nhưng tiến trình cũng chẳng khác nhau bao nhiêu, ta vẫn còn thấy chữ xuất hiện và dịch, cái khác biệt ấy là ta viết và dịch rất nhanh, nhưng từ một âm thanh phát ra cho đến khi ta hiểu thì cũng thông qua ba bước: viết, dịch, hiểu. Khi ta đi đến một trình độ nào đó, thì trong giao tiếp không có vấn đề gì cả, vì các câu rất ngắn, và ba bước đó được ‘process’ rất nhanh nên ta không bị trở ngại, nhưng khi ta nghe một bài dài, thì sẽ lòi ra ngay, vì sau hai, ba, bốn câu liên tục ‘processor’ trong đầu ta không còn đủ thì giờ để làm ba công việc đó. Trong lúc nếu một người nói bằng tiếng Việt thì ta nghe và hiểu ngay, không phải viết và dịch (tại vì ngày xưa khi ta học tiếng Việt thì quá trình là nghe thì hiểu ngay, chứ không thông qua viết và dịch, vả lại, nếu muốn dịch, thì dịch ra ngôn ngữ nào?), và người nói có nhanh cách mấy thì cũng không thể nào vượt cái khả năng duy nhất của chúng ta là ‘nghe bằng tai’.

Vì thế, một số sinh viên cảm thấy rằng mình tập nghe, và đã nghe được, nhưng nghe một vài câu thì phải bấm ‘stop’ để một thời gian chết – như computer ngưng mọi sự lại một tí để process khi nhận quá nhiều lệnh – rồi sau đó nghe tiếp; nhưng nếu nghe một diễn giả nói liên tục thì sau vài phút sẽ ‘điếc’. Từ đó, người sinh viên nói rằng mình ‘đã tới trần rồi, không thể nào tiến xa hơn nữa! Vì thế giới này không stop cho ta có giờ hiểu kịp’!’(1)

Từ những nhận xét trên, một trong việc phải làm để nâng cao kỹ năng nghe, ấy xóa bỏ kinh nghiệm Nghe bằng Mắt, mà trở lại giai đoạn Nghe bằng Tai, (hầu hết các du học sinh ở nước ngoài, sau khi làm chủ một ngoại ngữ rồi từ trong nước, đều thấy ‘đau đớn và nhiêu khê’ lắm khi buộc phải bỏ thói quen nghe bằng mắt để trở lại với trạng thái tự nhiên là nghe bằng tai! Có người mất cả 6 tháng cho đến 1 năm mới tàm tạm vượt qua).

- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe bằng cấu trúc văn phạm.
Khi nghe ai nói, ta viết một câu vào đầu, và sửa cho đúng văn phạm, rồi mới dịch, và sau đó mới hiểu! Ví dụ. Ta nghe ‘iwanago’ thì viết trong đầu là ‘I want to go’, xong rồi mới dịch và hiểu; nếu chưa viết được như thế, thì iwanago là một âm thanh vô nghĩa.

Thế nhưng, nếu ta nghe lần đầu tiên một người nói một câu hằng ngày: igotago, ta không thể nào viết thành câu được, và vì thế ta không hiểu. Bởi vì thực tế, câu này hoàn toàn sai văn phạm. Một câu đúng văn phạm phải là ‘I am going to go’ hoặc chí ít là ‘I have got to go’. Và như thế, đúng ra thì người nói, dù có nói tốc độ, cũng phải nói hoặc: I’m gona go; hoặc I’ve gota go (tiếng Anh không thể bỏ phụ âm), chứ không thể là I gotta go! Thế nhưng trong thực tế cuộc sống người ta nói như vậy, và hiểu rõ ràng, bất chấp mọi luật văn phạm. Văn phạm xuất phát từ ngôn ngữ sống, chứ không phải ngôn ngữ sống dựa trên luật văn phạm. Do đó, ta cũng phải biết nghe mà hiểu; còn cứ đem văn phạm ra mà tra thì ta sẽ khựng mãi. (Tôi đang nói về kỹ năng nghe, còn làm sao viết một bài cho người khác đọc thì lại là vấn đề khác!)

Tóm lại, trong phần chia sẻ này, tôi chỉ muốn nhắc với ACE rằng, hãy NGHE ĐIỀU NGƯỜI TA NÓI, CHỨ ĐỪNG NGHE ĐIỂU MÌNH MUỐN NGHE, và muốn được như vậy, thì HÃY NGHE BẰNG TAI, ĐỪNG NGHE BẰNG MẮT!
-->đọc tiếp...

Nhìn lại bản thân trong quá trình học ngoại ngữ (Phần I)

Phần I:

Một trong những trở ngại lớn nhất của chúng ta khi học một ngoại ngữ ấy là chúng ta quá… thông minh và có quá nhiều kinh nghiệm. Quá thông minh: vì mình không thể nào chấp nhận nghe một câu mà mình không hiểu: cần phải hiểu một câu nói gì trước khi nghe tiếp câu thứ hai, nếu không thì mình không buồn nghe tiếp. Quá kinh nghiệm: Cuộc đời đã dạy ta không nghe những gì người khác nói mà chỉ hiểu những gì mà nội dung chuyển tải. Nếu không hiểu nội dung, chúng ta không thể lặp lại lời người kia. Cũng vì thế mà – trong giai đoạn đầu học ngoại ngữ – mỗi lần nghe một câu tiếng Anh thì trong đầu phải dịch ra được tiếng Việt thì mới yên tâm, bằng không thì … câu ấy không có nghĩa.

Thế nhưng, đấy là lối học sinh ngữ ngược chiều. Tôi biết được 6 ngôn ngữ, trong đó có ba ngôn ngữ thành thạo nghe nói đọc viết: Việt – Anh – Pháp, và tôi thấy rằng trong các ngôn ngữ tôi biết thì, một cách khách quan, nghe và nói tiếng Việt là khó nhất (vì ở phương tây, không có ngôn ngữ nào mà mình đổi cao độ của một từ thì ý nghĩa từ ấy lại thay đổi: ma – má – mà – mạ – mã – mả). Nhưng các bạn đang đọc bài này, cũng như tôi, đều không có vấn đề gì cả với cái sinh ngữ khó vào bậc nhất ấy!

Tuy nhiên, những thầy cô dạy chúng ta nghe nói tiếng Việt chẳng phải là những vị chuyên viên ngôn ngữ như các thầy cô ngoại ngữ mà ta học tại các trường. Thầy dạy tiếng Việt chúng ta là tất cả những người quanh ta từ ngày ta ra đời: cha mẹ, anh chị, hàng xóm, bạn bè… nghĩa là đại đa số những người chưa có một giờ sư phạm nào cả, thậm chí không có một khái niệm nào về văn phạm tiếng Việt. Thế mà ta nghe tiếng Việt thoải mái và nói như sáo. Còn tiếng Anh thì không thể như thế được. Ấy là vì đối với tiếng Việt, chúng ta học theo tiến trình tự nhiên, còn ngoại ngữ thì ta học theo tiến trình phản tự nhiên.

Từ lúc sinh ra chúng ta đã NGHE mọi người nói tiếng Việt chung quanh (mà chẳng bao giờ ta phản đối: “tôi chẳng hiểu gì cả, đừng nói nữa”! Mới sinh thì biết gì mà hiểu và phản đối!). Sau một thời gian dài từ 9 tháng đến 1 năm, ta mới NÓI những tiếng nói đầu tiên (từng chữ một), mà không hiểu mình nói gì. Vài năm sau vào lớp mẫu giáo mới học ĐỌC, rồi vào lớp 1 (sáu năm sau khi bắt đầu nghe) mới tập VIẾT… Lúc bấy giờ, dù chưa biết viết thì mình đã nghe đưọc tất cả những gì người lớn nói rồi (kể cả điều mình chưa hiểu). Như vậy, tiến trình học tiếng Việt của chúng ta là Nghe – Nói – Đọc – Viết. Giai đoạn dài nhất là nghe và nói, rồi sau đó từ vựng tự thêm vào mà ta không bao giờ bỏ thời gian học từ ngữ. Và ngữ pháp (hay văn phạm) thì đến cấp 2 mới học qua loa, mà khi xong trung học thì ta đã quên hết 90% rồi.

Nhưng tiến trình ta học tiếng Anh (hay bất cứ ngoại ngữ nào) thì hoàn toàn ngược lại.

Thử nhìn lại xem: Trước tiên là viết một số chữ và chua thêm nghĩa tiếng Việt nếu cần. Và kể từ đó, học càng nhiều từ vựng càng tốt, kế đến là học văn phạm, rồi lấy từ vựng ráp vào cho đúng với văn phạm mà VIẾT thành câu! Rồi loay hoay sửa cho đúng luật! Sau đó thì tập ĐỌC các chữ ấy trúng được chừng nào hay chừng ấy, và nhiều khi lại đọc một âm tiếng Anh bằng một âm tiếng Việt! (ví dụ fire, fight, five, file… đều được đọc là ‘phai’ ). Sau đó mới tới giai đoạn NÓI, mà ‘nói’ đây có nghĩa là Đọc Lớn Tiếng những câu mình viết trong đầu mình, mà không thắc mắc người đối thoại có hiểu ‘message’ của mình hay không vì mình chỉ lo là nói có sai văn phạm hay không. Lúc bấy giờ mới khám phá rằng những câu mình viết thì ai cũng hiểu, như khi mình nói thì chỉ có mình và … Thượng Đế hiểu thôi, còn người bản xứ (tiếng Anh) thì ‘huh – huh’ dài cổ như cổ cò! Thế là học nói bằng cách sửa đổi phát âm những từ nào chưa chuẩn cho đến khi người khác có thể hiểu được.

Sau thời gian dài thật dài, mình khám phá rằng mình từng biết tiếng Anh, và nói ra thì người khác hiểu tàm tạm, nhưng khi họ nói thì mình không nghe được gì cả (nghĩa là nghe không hiểu gì cả). Lúc bấy giờ mới tập NGHE, và rồi đành bỏ cuộc vì cố gắng mấy cũng không hiểu được những gì người ta nói.

Vấn đề là ở đó: chúng ta đã học tiếng Anh ngược với tiến trình tự nhiên, vì quá thông minh và có quá nhiều kinh nghiệm. Tiến trình ấy là Viết – Đọc – Nói – Nghe!

Vì thế, muốn nghe và nói tiếng Anh, chuyện đầu tiên là phải quên đi kinh nghiệm và trí thông minh, để trở lại trạng thái ‘sơ sinh và con nít’, và đừng sử dụng quá nhiều chất xám để phân tích, lý luận, dịch thuật!
-->đọc tiếp...

Mỗi ngày học một từ mới qua email

Các website có dịch vụ gửi email (bạn cũng có thể xem trực tiếp trên trang):
  • WordSmith.org: Khai báo thông tin về tên và địa chỉ email để nhận từ mới. Đây là một trong những trang cung cấp từ mới có "tuổi thọ" lâu nhất.
  • Oxford English Dictionary: Chọn khu vực địa lý, một email có sẵn nội dung sẽ được mở ra, hãy nhấn gửi và đợi kết quả đăng ký.
  • Dictionary.com: Nhập địa chỉ email và đợi thư mới.
  • Merriam-Webster.com: Khi báo thông tin về tên, địa chỉ email, chọn quốc gia và trả lời một số câu hỏi khác để đăng ký.

Các website chỉ xem trực tiếp trên trang:
-->đọc tiếp...

31 từ đẹp nhất trong tiếng anh

* 1. mother: người mẹ, tình mẫu tử
* 2. passion:
tình cảm, cảm xúc
* 3. smile:
nụ cười thân thiện
* 4. love:
tình yêu
* 5. eternity:
sự bất diệt, vĩnh cửu
* 6. fantastic:
xuất sắc, tuyệt vời
* 7. destiny:
số phận, định mệnh
* 8. freedom:
sự tự do
* 9. liberty:
quyền tự do
* 10. tranquility:
sự bình yên
* 11. peace:
sự hoà bình
* 12. blossom:
sự hứa hẹn, triển vọng
* 13. sunshine:
ánh nắng, sự hân hoan
* 14. sweetheart:
người yêu dấu
* 15. gorgeous:
lộng lẫy, huy hoàng
* 16. cherish:
yêu thương
* 17. enthusiasm:
sự hăng hái, nhiệt tình
* 18. hope:
sự hy vọng
* 19. grace:
sự duyên dáng
* 20. rainbow:
cầu vồng, sự may mắn
* 21. blue:
màu thiên thanh
* 22. sunflower:
hoa hướng dương
* 23. twinkle:
sự long lanh
* 24. serendipity:
sự tình cờ, may mắn
* 25. bliss:
niềm vui sướng vô bờ
* 26. lullaby:
bài hát ru con, sự dỗ dành
* 27. sophisticated:
sự tinh vi
* 28. renaissance:
sự phục hưng
* 29. cute:
xinh xắn đáng yêu
* 30. cosy:
ấm cúng
* 31. butterfly:
bươm bướm, sự kiêu sa
-->đọc tiếp...

Âm mũi Nasal consonant và âm mũi hóa Nasalization

Nhận thức được đặc điểm phát âm này giúp chúng ta nghe tiếng Anh dễ dàng hơn và dần dần tiến tới global English.

+ Các âm /n,m,ng/ được gọi là nasal consonant, từ tiếng Latin nasus có nghĩa là mũi, vì các âm náy lúc được phát ra có tiếng ngân từ mũi phát ra trước khi chúng ta khởi động cơ quan phát âm.

Âm /m/ đuợc gọi là bilabial nasal, bilabial có nghĩa 2 môi, vì âm này được chuẩn bị phát với hai môi khép kín, rồi tiếng ngân từ mũi phát ra sau đó hai môi bung ra mà tạo thành.

Âm /n/ là alveolar nasal, vòm họng trước, vì âm này được chuẩn bị khi phần trên đầu lưỡi ém kín lên vòm họng trước chỗ phía trên của răng rồi hơi ngân ra từ mũi một chút trước khi lưỡi bật xuống.

Âm /ng/ gọi là velar nasal, velum vòm họng mềm chỗ màn thịt chứa lưỡi gà (đốc vọng), được phát bằng cách ém phần trong của lưỡi lên trên vòm họng mềm ngân hơi ra mũi một chút rồi bật lưỡi rời vòm họng. Một đặc điểm của tiếng Anh là không có từ nào được bắt đầu bằng âm này, nó chỉ nằm giữa hoặc phần nhiều ở cuối một từ khi chúng ta thêm suffix ing vào động từ.

Người Việt chúng ta phát 3 âm nasals rất dễ dàng vì chúng ta cũng có 3 âm này, nhưng người ở một số vùng tại miền Bắc (Tonkinoise accent) nói ngọng giữa /l/ và /n/ thì nên chú ý tập luyện.

+ Đáng chú ý là Nasalization, âm mũi hoá, là những nguyên âm chịu tác động của phụ âm mũi phía sau, để biến thành nguyên âm mũi. Đặc điểm này là giọng bản ngữ tiếng Pháp (từ un (một) của tiếng Pháp có âm là /o/ bằng tiếng ngân mũi và phụ âm mũi /n/ thì biến mất). Chúng ta sẽ nghe nhiều người Mỹ, nhất là đàn ông già nói chậm, người Canada ở vùng nói tiếng Pháp, và người nói tiếng Creole ( ở Haiti, Louisiana) thường phát âm giọng mũi này. Chúng ta có thể tập bằng cách khép kín hai môi , lưỡi không cữ động rồi phát hai âm /ah hah/ qua mũi, đó là chúng ta phát hai syllables /um hum/ hoàn toàn nasalized.

Ví dụ từ restaurant, người Anh phát âm là /'res.truhnt/, Mỹ phát /'res.tuh.'rahnt/ với âm /ah/ giọng mũi, Newton /'noot.uhn/ với âm /uh/ mũi, important /im.'port.uhnt/, envelope /'ahn. vuh.lohp/, Bin Laden /bin 'lahd.uhn/... Nhận thức được đặc điểm phát âm này giúp chúng ta nghe tiếng Anh dễ dàng hơn và dần dần tiến tới global English.
-->đọc tiếp...

Quy tắc nối âm (liaisons)

Đây là một phần tương đối khó đối với người châu Á, vì hầu hết các ngôn ngữ châu Á đều không nối âm. Ví dụ bạn đọc "cảm ơn", chứ không đọc "cảm mơn", đọc là "im ắng", chứ không phải "im mắng",... Và theo thói quen, khi đọc tiếng Anh, bạn cũng sẽ không nối âm. Vì vậy, bạn phải luyện tập rất nhiều để có phản xạ này.

Phụ âm đứng trước nguyên âm
Về nguyên tắc, khi có một phụ âm đứng trước một nguyên âm, bạn đọc nối phụ âm với nguyên âm. Ví dụ "mark up", bạn đọc liền chứ không tách rời 2 từ (/ma:k k٨p/*). Tuy nhiên, điều này không phải dễ, nhất là đối với những từ tận cùng bằng nguyên âm không được phát âm, ví dụ: "leave (it)" đọc là /li:v vit/; "Middle (East)", /midl li:st/,... Hoặc đối với những cụm từ viết tắt, ví dụ "LA" (Los Angeles) bạn phải đọc là /el lei/; "MA" (Master of Arts), /em mei/...
Lưu ý, khi một phụ âm có gió đứng trước nguyên âm, trước khi bạn nối với nguyên âm, bạn phải chuyển phụ âm đó sang phụ âm không gió tương ứng. Ví dụ "laugh" được phát âm là /f/ tận cùng, nhưng nếu bạn dùng trong một cụm từ, ví dụ "laugh at someone", bạn phải chuyển âm /f/ thành /v/ và đọc là /la:v væt/.
Nguyên âm đứng trước nguyên âm
Điều này có thể rất mới mẻ với nhiều người. Về nguyên tắc, bạn sẽ thêm một phụ âm vào giữa 2 nguyên âm để nối. Có 2 quy tắc để thêm phụ âm như sau:
Đối với nguyên âm tròn môi (khi phát âm, môi bạn nhìn giống hình chữ "O"), ví dụ: "OU", "U", "AU",... bạn cần thêm phụ âm "W" vào giữa. Ví dụ "do it" sẽ được đọc là /du: wit/.
- Đối với nguyên âm dài môi (khi phát âm, môi bạn kéo dài sang 2 bên), ví dụ: "E", "I", "EI",... bạn thêm phụ âm "Y" vào giữa. Ví dụ "I ask" sẽ được đọc là /ai ya:sk/.
Bạn thử áp dụng 2 quy tắc này để phát âm: USA /ju wes sei/, VOA /vi you wei/, XO /eks sou/,...
Phụ âm đứng trước phụ âm
Về nguyên tắc, khi có 2 hay nhiều hơn phụ âm cùng nhóm đứng gần nhau, thì chỉ đọc 1 phụ âm mà thôi. Ví dụ "want to" (bao gồm 3 phụ âm N, T, T cùng nhóm sau răng đứng gần nhau) sẽ được đọc là /won nə/*.
Các trường hợp đặc biệt
- Chữ U hoặc Y, đứng sau chữ cái T, phải được phát âm là /ch/, vd. not yet /'not chet/*; picture /'pikchə/*.
- Chữ cái U hoặc Y, đứng sau chữ cái D, phải được phát âm là /dj/, vd. education /edju:'keiòn/.
- Phụ âm T, nằm giữa 2 nguyên âm và không là trọng âm, phải được phát âm là /D/, vd. trong từ tomato /tou'meidou/; trong câu I go to school /ai gou də sku:l/.
-->đọc tiếp...

Để một hợp đồng mua bán bất động sản phải đảm bảo các điều kiện thủ tục sau

  • Điều kiện:
- Người chuyển nhượng phải có các giấy tờ hợp pháp đối với mảnh đất định chuyển nhượng (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
- Đất không có tranh chấp không bị kê biên....
  • Công việc phải làm:
- Bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng mang các giấy tờ hợp đó cùng giấy chưng minh thư nhân dân ra phòng công chứng xác lập hợp đồng mua bán, chuyển nhượng bất động sản

- Hồ sơ mua bán
+ Hợp đồng mua bán đất đã qua công chứng
+ Giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu (bản sao)
+ Các giấy tờ khác nếu có

- Nộp hồ sơ
+ Một trong các bên tham gia giao dịch nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
+ Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế (Bây giờ là thuế thu nhập cá nhân) sau khi nhận được thông báo của cơ quan tiếp nhận hồ sơ cho cơ quan thuế sau đó chuyển biên lai về văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
+ Thực hiện các nghĩa vụ khác (nếu có phát sinh) và chờ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

1. Quy định của pháp Luật về tách thửa:
Điều 19. Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp thực hiện tách thửa
........

2. Việc tách thửa, hợp thửa theo nhu cầu của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Người sử dụng đất có nhu cầu xin tách thửa hoặc hợp thửa lập một (01) bộ hồ sơ nộp tại Sở Tài nguyên và Môi trường nếu là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài; nộp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường nếu là hộ gia đình, cá nhân;
b) Ngay trong ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo, Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc Phòng Tài nguyên và Môi trường (gọi chung là cơ quan Tài nguyên và Môi trường) có trách nhiệm gửi hồ sơ cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc để chuẩn bị hồ sơ địa chính;
c) Đối với trường hợp hợp thửa không phải trích đo địa chính thì ngay trong ngày nhận được hồ sơ hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm làm trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính và gửi đến cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp.
Đối với trường hợp tách thửa hoặc trường hợp hợp thửa mà phải trích đo địa chính thì trong thời hạn không quá bảy (07) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm làm trích đo địa chính thửa đất mới tách hoặc mới hợp thửa, làm trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính và gửi đến cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp;
d) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất mới; Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm ký Giấy chứng nhận cho thửa đất mới trong trường hợp được ủy quyền hoặc trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận cho thửa đất mới trong trường hợp không được ủy quyền;
đ) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tờ trình, Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét, ký và gửi Giấy chứng nhận cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường trực thuộc;
e) Ngay trong ngày nhận được Giấy chứng nhận đã ký hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo, cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trao bản chính Giấy chứng nhận đối với thửa đất mới cho người sử dụng đất; gửi bản lưu Giấy chứng nhận đã ký, bản chính Giấy chứng nhận đã thu hồi hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai đã thu hồi cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc; gửi thông báo biến động về sử dụng đất cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường để chỉnh lý hồ sơ địa chính gốc.

3. Trường hợp tách thửa do Nhà nước thu hồi một phần thửa đất thì căn cứ quyết định thu hồi đất, cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thực hiện việc tách thửa theo quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 2 Điều này.

Thủ tục này thuộc về người đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nhu cầu tách thửa để chuyển nhượng.
-->đọc tiếp...

Hồ sơ mua bán nhà đất hợp pháp

Bước 1, người bán phải có giấy chứng nhận của uỷ ban nhân dân phường hoặc xã nhà đất không có tranh chấp, không giải toả, di dời,...

Bước 2, phải đi công chứng về việc mua bán nhà

Bước 3, đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, đóng lệ phí trước bạ sang tên

Bước 4, đăng bộ nếu gia đình anh/chị trình tự qua các bước nêu trên là hợp lệ.
-->đọc tiếp...

Âm câm trong tiếng Anh

Trong tiếng Anh luôn có nguyên tắc sử dụng mạo từ “a”,”an” trước các danh từ.Và “a” thường đứng trước các danh từ bắt đầu bằng phụ âm,”an” đứng trước các danh từ bắt đầu bằng nguyên âm.Nhưng tại sao có những trường hợp “an hour” chứ không phải là”a hour”? Đó là âm câm và cũng là hiện tượng phổ biến trong tiếng Anh.

Hiện tượng này đã gây cho những người học Tiếng Anh nhiều khó khăn trong việc phát âm chuẩn các từ chứa âm câm cũng như trong việc sử dụng đúng mạo từ a, an, the.Và sau đây là những trường hợp âm câm phổ biến trong tiếng Anh :

Âm B câm: Âm B là một âm câm khi nó đứng cuối từ và đứng trước nó là âm M.

Ví dụ:
• climb [klaim]
• crumb [krʌm]
• dumb [dʌm]
• comb [koum]

Âm C câm: Âm C là một âm câm trong cụm "scle" ở cuối từ.

Ví dụ:
• muscle ['mʌsl]

Âm D câm: Âm D là một âm câm khi nó đứng liền với âm N.

Ví dụ:
• handkerchief ['hæηkət∫if]
• sandwich ['sænwidʒ]
• Wednesday ['wenzdi]

Âm E câm: Âm E là một âm câm khi đứng cuối từ và thường kéo dài nguyên âm đứng trước đó.

Ví dụ:
• hope [houp]
• drive [draiv]
• write [rait]
• site [sait]

Âm G câm: Âm G là một âm câm khi đứng trước âm N.

Ví dụ:
• champagne [∫æm'pein]
• foreign ['fɔrin]
• sign [sain]
• feign [fein]

Âm GH câm: Âm GH là một âm câm khi đứng trước âm T hoặc đứng cuối từ.

Ví dụ:
• thought [θɔ:t]
• through [θu:]
• daughter ['dɔ:tə]
• light [lait]
• might [mait]
• right [rait]
• fight [fait]
• weigh [wei]

Âm H câm: Âm H là một âm câm khi đứng sau âm W.

Ví dụ:
• what [wɔt]
• when [wen]
• where [weə]
• whether ['weđə]
• why [wai]

Một số từ bắt đầu bằng âm H câm sẽ được dùng với mạo từ “an”.

Ví dụ:
• hour ['auə]
• honest ['ɔnist]
• honor ['ɔnə]
• heir [eə]

Những từ còn lại vẫn được dùng với mạo từ “a”.

Ví dụ:
• hill [hil]
• history ['histri]
• height [hait]
• happy ['hæpi]

Âm K câm: Âm K là một âm câm khi đứng trước âm N ở đầu các từ như:
• knife [naif]
• knee [ni:]
• know [nou]
• knock [nɔk]
• knowledge ['nɔlidʒ]

Âm L câm: Âm L là một âm câm khi đứng trước các âm D, F, M, K.

Ví dụ:
• calm [ka:m]
• half [ha:f]
• salmon ['sæmən]
• talk [tɔ:k]
• balk [tɔ:k]
• would [wud]
• should [∫ud]

Âm N câm: Âm N là một âm câm nếu đứng ở cuối từ và trước đó là một âm M.

Ví dụ:
• autumn ['ɔ:təm]
• hymn [him]

Âm P câm: Âm P là một âm câm khi đứng trong các tiền tố "psych" and "pneu".

Ví dụ:
• psychiatrist [sai'kaiətrist]
• pneumonia [nju:'mouniə]
• psychotherapy ['saikou'θerəpi]
• pneuma ['nju:mə]

Âm S câm: Âm S là một âm câm khi đứng trước âm L như trong các từ sau:
• island ['ailənd]
• isle [ail]

Âm T câm: Âm T là một âm câm nếu đứng sau âm S, F, hay đứng trước âm L.

Ví dụ:
• castle ['kɑ:sl]
• Christmas ['krisməs]
• fasten ['fɑ:sn]
• listen ['lisn]
• often ['ɔfn]
• whistle ['wisl]

Âm U câm: Âm U là một âm câm nếu đứng sau âm G và đứng trước một nguyên âm.

Ví dụ:
• guess [ges]
• guidance ['gaidəns]
• guitar [gi'tɑ:]
• guest [gest]
Âm W câm: Âm W là âm câm nếu đứng đầu tiên của một từ và liền sau đó là âm R. Ví dụ:
• wrap [ræp]
• write [rait]
• wrong [rɔη]

Âm W còn là âm câm trong 3 đại từ để hỏi sau đây:
• who [hu:]
• whose [hu:z]
• whom [hu:m]
-->đọc tiếp...

15 tháng 12, 2009

Chỉnh joomla sử dụng mail google để gửi thư

Đầu tiên các bạn mở trang quản trị, mở mục "Global Configuration" và chọn tab "Server", sau đó tìm phần "Mail Settings" và cấu hình như sau:

* Mailer: SMTP Server
* Mail From: Địa chỉ thư của bạn
* From Name: Tiêu đề thư
* SMTP Authentication: Yes
* SMTP Security: SSL
* SMTP Port: 465
* SMTP Username: Your Gmail username
* SMTP Password: Your Gmail password
* SMTP Host: smtp.gmail.com
-->đọc tiếp...

Giấc Mơ Chapi


Ở nơi ấy tôi đã thấy trên ngọn núi cao

có hai người, chỉ có hai người yêu nhau

Họ đã sống không mùa đông không mùa nắng mưa

có một mùa, chỉ có một mùa yêu nhau

Ở nơi ấy đàn dê trắng nhởn nhơ quanh đồi một mái tranh nghèo một nhà sàn yên vui

Ở nơi ấy họ đang sống cuộc sống yên bình ai nghèo cũng có cây đàn cha pi

Khi rung lên vài sợi dây đàn đã đong đầy hồn người Raglai

Ôi Raglai những rừng cây ngọn núi mang tiếng đàn cha pi

Ai yêu tự do yêu rừng xanh thì lên núi nghe đàn cha pi

Tôi yêu cha pi không còn cô đơn, không buồn, không vui

Tôi nghe cha pi chợt thấy nao lòng vì một giấc mơ, ôi cha pi

Cha pi, Cha pi, Cha pi, Cha pi, ôi Cha pi...
-->đọc tiếp...

14 tháng 12, 2009

Món quà giánh sinh em ước là anh

Nghe bài này thấy buồn buồn. Cảm xúc rất thật.
-->đọc tiếp...

13 tháng 12, 2009

Giây Phút Êm Đềm


Lại một ngày,một ngày nữa đã qua
Xa em đã lâu chưa gặp em
Từ ngày, ngày em bước đi theo người
Anh đã biết nỗi khao khác, mõi mòn
Rồi một ngày, một ngày thiếu vắng em
Anh đã biết tự tập sống cho riêng mình
Bù em ko yêu anh hay ko còn bên anh
Dù ta chia tay nhau nhưng anh vẫn chờ em

ĐK
Giấc mơ ngày qua
Những giấc mơ bình yên

Được yêu, được ôm em
Xiết em trong vòng tay
Dẫu biết là giấc mộng
Tình cũng đã lỡ làng
Vắng em từ đây nhưng tim anh vẫn ko quên
Mãi yêu mình em, vẫn mãi yêu mình em
Dù cho phải xa nhau cách chia đôi tình ta
Anh vẫn mong chờ, anh vẫn mong đợi
Anh vẫn hoài nhớ, yêu em mãi suốt cuộc đời
Những giây phút êm đềm.
-->đọc tiếp...

Mùa Đông Không Lạnh


Anh gặp em giữa trời đông buốt giá,
Mắt ta nhìn tựa đã quen từ lâu.
Em cười tươi như mặt trời cuối đông,
Nụ cười đó, làm sao anh quên.
Ta cách xa muôn trùng mây,
Từng dòng thư gởi kèm nỗi nhớ thương.
Anh nhớ em đêm từng đêm,
Lòng thầm mong thấy em trong phút giây!!!

Đợi gặp em. Đi bên em không nói được câu gì.
Ngồi kề em sao mùa đông thấy không giá lạnh!
Ngày gặp em sương đêm rơi gió rét từng cơn lạnh lùng,
Sao lòng anh thấy ấm nồng cuộc tình đầu tiên.
Giờ chia ly em quay đi che giấu bờ mi lệ rơi,
Ta xa nhau mong đến một ngày gặp lại,
Giờ chia ly anh xa em nhưng sẽ nhớ em người ơi!!!
Trái tim anh, trái tim em không rời xa ^ ^

Anh gặp em giữa trời đông buốt giá,
Mắt ta nhìn tựa đã quen từ lâu.
Em cười tươi như mặt trời cuối đông,
Nụ cười đó, làm sao anh quên.
Ta cách xa muôn trùng mây,
Từng dòng thư gởi kèm nỗi nhớ thương.
Anh nhớ em đêm từng đêm,
Lòng thầm mong thấy em trong phút giây!!!

Đợi gặp em. Đi bên em không nói được câu gì.
Ngồi kề em sao mùa đông thấy không giá lạnh!
Ngày gặp em sương đêm rơi gió rét từng cơn lạnh lùng,
Sao lòng anh thấy ấm nồng cuộc tình đầu tiên.
Giờ chia ly em quay đi che giấu bờ mi lệ rơi,
Ta xa nhau mong đến một ngày gặp lại,
Giờ chia ly anh xa em nhưng sẽ nhớ em người ơi!!!
Trái tim anh, trái tim em không rời xa
Trái tim anh, trái tim em không rời xa !!!
-->đọc tiếp...

11 tháng 12, 2009

Cài đặt Driver cho Ubuntu

Bài viết là đóng góp của cộng đồng Ubuntu-Vn trong dự án "Đưa Linux đến gần hơn với cộng đồng Windows". Bài viết đã được đăng trên báo LBVMVT sô 290 hay gì đó. Các bạn có thể tìm đọc nếu không có điều kiện đọc Online.
Một việc rất quan trọng khi dùng bất cứ một hệ điều hành nào đó chính là driver cho các thiết bị. Đa số các thiết bị đều được Ubuntu nhận ra và có thể dùng được ngay sau khi cài đặt xong hệ điều hành, chỉ có một số ít các thiết bị cần được cài đặt driver để sử dụng, đó là các driver có bàn quyền không để mở mã nguồn.





1. Cài Driver card màn hình với máy tính có kết nối internet:
    Với các máy có card màn hình tích hợp dòng chipset Intel ( 945, X3100, G31. ...) thì không cần cài đặt vì ubuntu sẽ tự nhận các  thiết bị này.
    Với các dòng card màn hình rời hay tích hợp có chipset của NVIDIA hay ATI thì chúng ta tiến hành cài bằng cách: vào trình đơn
System -> Administration -> Hardware Driver. Tại đây nếu bạn thấy thiết bị của mình chưa được Active thì chọn Active để Ubuntu tự động tải về trình điều khiển và cài đặt cho bạn. Nếu bạn không thấy thiết bị của mình hoặc việc cài đặt thất bại, bạn có thể cài đặt qua một chương trình là EnvyNG. Bắt đầu cài đặt bạn cần chắc chắn đường kết nối vào mạng ổn định để hệ thống tiến hành cài đặt từ các kho  (Repository hay gọi tắt là Repo) của Ubuntu. Bạn mở Terminal từ menu Application --> Accessories ->Terminal ( nếu bạn cài Ubuntu với chế độ tiếng Việt thì nó có tên là Thiết bị cuối). Trong Terminal bạn đánh lệnh sau để cài đặt EnvyNG
   
sudo apt-get install envyng-core
    hệ thống sẽ hỏi bạn password, bạn hãy đánh password mà bạn dùng để login vào, chú ý là do bảo mật nên bạn sẽ không nhìn thấy gì khi đánh password cả nhưng hệ thống vẫn hiểu.Chờ cho quá trình cài đặt hoàn tất bạn đánh tiếp tục chạy EnvyNG để cài driver bằng cách đánh vào Terminal :
   
sudo envyng -t    Màn hình cài đặt sẽ hiện ra:


   
Bạn chỉ cần chọn tương ứng loại card đồ hoạ mà bạn có ( NVIDIA hay ATI) sau đó bấm phím số tương ứng để tiến hành cài đặt, quá trình cài đặt sẽ diễn ra hoàn toàn tự động, khi cài xong bạn chọn phím 0 để khởi động lại máy xem kết quả.

2. Cài driver với máy không có kết nối internet:
    a. Với VGA NVIDIA thì bạn vào trang
http://www.nvidia.com/Download/index.aspx?lang=en-us để chọn đúng driver cho card của mình, chú ý nếu bạn cài bản ubuntu thông thương thì bạn hãy chọn trong Operating SystemLinux 32bit, sau khi download về bạn sẽ có một file dạng abc.run, để tiện thao tác bạn nên để gói này trên desktop và đổi tên thành DRIVER.run.
    Tiếp theo bạn cần đưa đĩa Cd mà bạn dùng cài Ubuntu vào ổ CD-ROM sau đó vào
System -->Administration --> Softwarre Sources, bạn hãy bỏ chọn tất cả dấu chọn ở tất cả các tab trừ mục : Cdrom with Ubuntu ....Bấm Close, tại thông báo hiện ra chọn Reload.
    Tiếp tục bạn vào
Terminal đánh lệnh: sudo apt-get install build-essential
Sau khi cài xong gói
build-essential là lúc bạn có thể tiến hành cài đặt từ gói driver đã tải về.
    Sau khi đã tắt tất cả các ứng dụng bạn hãy bấm tổ hợp phím Ctrl+Alt+F1 (có thể phải nhấn 2 lần) để vào chế độ dòng lệnh ảo của ubuntu, bạn hãy đăng nhập bằng tài khỏa của bạn bình thường. Tại dấu nhắc của màn hình bạn đánh lệnh:
sudo /etc/init.d/gdm stop ( hướng dẫn cho cái máy chạy môi trường làm việc GNOME là môi trường làm việc phổ biến nhất), đánh tiếp cd ~/Desktop để chuyển đến nơi có chứa file cài đặt, tiếp tục với lệnh: sudo sh ./.run ví dụ nếu tên file là DRIVER.run thì lệnh là: sudo sh ./DRIVER.run . Phần sau thì hoàn toàn tự động, bạn chỉ cần bấm Ok là xong, khởi động lại sau khi cài xong để thấy thay đổi.
b. Với dòng card ATI thì bạn làm như sau:
 Vào trang
http://ati.amd.com/support/driver.HTML để chọn loại driver thích hợp mới VGA của mình như hình sau:






với bản ubuntu bình thường thì bạn chọn Linux x86 chọn loại card thích hợp bấm GO đê tải driver về, tương tự ta được một file abc.run nào đó tùy loại.
    Tiến hành gở bỏ XGKL nếu có bằng cách đánh lệnh sau vào terminal:
    
sudo apt-get remove xserver-xgl
    
dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục chứa file .run bạn đã tải vể và tiến hành cài bằng lệnh:
    sudo ./ati-driver-installer-số-phiên-bản.run
Của sổ cài đặt hiện ra, bạn làm theo hướng dẫn.
Sau khi cài xong gõ lệnh:

    sudo aticonfig --initial
đánh tiếp lệnh sau để cấu hình driver mới.:

    sudo aticonfig --overlay-type=Xv
Tiếp tục:
    sudo gedit /etc/default/linux-restricted-modules-common
Tìm dòng DISABLED_MODULES thêm vào fglrx như sau:
    DISABLED_MODULES="fglrx"
Lưu lại và thoát gedit.
Sau đó chạy tiếp lệnh:

    sudo gedit /etc/X11/xorg.conf
Tìm phần như sau:
    Section "Extensions"
    Option "Composite" "0"
    EndSection

Nếu thấy thì vô hiệu chúng bằng cách thêm "#" trước mỗi dòng thành:
    #Section "Extensions"
    # Option "Composite" "0"
    #EndSection

Lưu lại và thoát gedit, sau đó tiếp tục cấu hình để compiz hoạt động với driver mới:
    sudo gedit /etc/xdg/compiz/compiz-manager
Tìm dòng :
    WHITELIST="nvidia intel ati radeon"
Sau đó thêm vào aiglx,fglrx sẽ được như sau:
    WHITELIST="nvidia intel ati radeon fglrx aiglx"
Khởi động lại máy tính, Nếu đăng nhập thành công bạn dùng lệnh sau trong Terminal:
    fglrxinfo
để xem thông tin. Ví dụ:
    khanhpt@Khanhpt:~$ fglrxinfo
    display: :0.0 screen: 0
    OpenGL vendor string: ATI Technologies Inc.
    OpenGL renderer string: Radeon X300/X550/X1050 Series
    OpenGL version string: 2.1.7412 Release
 

3.Với mạng không dây:
    Đa số các phiên bản ubuntu mới đều tự nhận mạng không dây nếu chipset không dây là của Intel nhưng có thể ubuntu không nhận một số card mạng của Broadcom, gặp trường hợp này bạn cần dùng một đường kết nối internet hữu tuyến bất kì để tiến hành cài đặt.
a, cách 1: sử dụng b43-fwcutter
    - Cài đặt b43-fwcutter:
        
sudo apt-get install b43-fwcutter
   - Cài đặt driver bằng cách đánh lần lượt các lệnh sau vào Terminal:

        wget http://downloads.openwrt.org/sources/broadcom-wl-4.80.53.0.tar.bz2
        
tar xjf broadcom-wl-4.80.53.0.tar.bz2
        
cd broadcom-wl-4.80.53.0/kmod
        
sudo b43-fwcutter -w /lib/firmware wl_apsta.o
      - Sau khi cài đặt xong thì bạn cần khởi động lại máy để xem có thành công không.

b, Cách 2:sử dụng ndiswrapper: là một dự án mã nguồn mở với mục đích chạy các driver wireless của windows trên nền tảng hệ điều hành linux.
    - Tạo một danh sách blacklist b43, ssb, mac80211 bằng các lệnh sau:

        sudo echo "blacklist b43" >> /etc/modprobe.d/blacklist
        sudo echo "blacklist ssb" >> /etc/modprobe.d/blacklist
        sudo echo "mac80211" >> /etc/modprobe.d/blacklist


    - Cài đặt ndiswrapper

        sudo apt-get install ndiswrapper

    - Tải driver: http://www.box.net/shared/ddeqeq7mdd và giải nén sẽ được một thư mục có file bcmwl5.inf
    - Tiến hành cài đặt bằng cách đánh lần lượt các lệnh:

        sudo ndiswrapper -i /đường-dẫn-đến-file/bcmwl5.inf ( ví dụ: /home/bcm/bcmwl5.inf)
        sudo ndiswrapper -m
        sudo modprobe ndiswrapper

    - Cài đặt xong bạn cần khởi động lại để thấy kết quả.

    - Trong trường hợp ndiswrapper vẫn chưa load bạn chạy lệnh sau trong Terminal
        
sudo echo "alias wlan0 ndiswrapper >> /etc/modprobe.conf
   
Nếu càn gặp khó khăn gì bạn có thể tìm hiểu thêm thông tin cũng như giúp đỡ từ tại địa chỉ: http://forum.ubuntu-vn.org/viewtopic.php?f=21&t=506
c, Cách 3 đơn giản hơn,
    bạn cũng tạo Blacklist như cách 2 rồi cài đặt driver bằng lệnh sau:
        
sudo apt-get install broadcom-wl
    sau đó khởi động lại máy để kiểm tra.

4. Điều chỉnh để có thể có chế độ âm thanh đa kênh:
    Mặc định âm thanh của ubuntu chỉ cho ra âm thanh stereo, để có âm thanh đa kênh bạn cần làm một số chỉnh sửa như sau ( tất nhiên nếu máy của bạn có hỗ trợ âm thanh đa kênh).





- Chuột phải vào Volume manager (hình chiếc loa ở góc trên phải màn hình) chọn Open volume control
- Tại tab
Playback chọn Preferences tích chọn các ô sau:
 
Master, PCM, Surround, Center, line-in, CD, Microphone, PC speaker, Duplicate front, Surround Jack Mode, Channel Mode chọn xong bạn nhấn  Close
- Tại tab
Switches bấm chon ô Duplicate Front
- Sang tab
Options chọn ở ô Surround Jack Mode chọn Shared, Ô Channel Mode chọn theo loa của mình : nếu 4.0 hay 4.1 chọn là 4ch, nếu 5.1 chọn là 6ch.
chú ý:
- Nếu là card onboard với chế độ jack là shared ( chẳng hạn sound của bạn hỗ trợ âm thanh 5.1 nhưng chỉ có 3 lỗ cắm jack tức là 2 cổng vào là Line-inMicrophone cũng được sử dụng khi chuyển sang chế độ âm thanh cao hơn 4.1 (4 kênh) hay 5.1 (6 kênh) chẳng hạn thì trong phần Surround Jack Mode bạn sẽ chọn là Shared.
- Nếu sound card của bạn onboard nhưng hỗ trợ các ngõ ra và vào âm thanh độc lập (chẳng hạn card sound của bạn hỗ trợ âm thanh 5.1 nhưng có tới 5 ngõ ra thì các ngõ ra đó là độc lập) khi đó trong phần Surround Jack Mode bạn chọn là  Independent. Với trường hợp card âm thanh là rời thì cũng tương tự như trên do đa số các card âm thanh đều cho các cổng âm thanh ra và vào độc lập. Bạn cần xem kĩ sách hướng dẫn của mainboard hay tài liệu đi kèm card âm thanh khi mua để thiết hệ thống âm thanh chuẩn.Chọn xong bạn nhấn close, sau đó là bạn có thể bắt đầu thưởng thức chế độ âm thanh lập thể ngay.
-->đọc tiếp...
BlogWeb: tạo từ Blog của Google
Nội dung: lấy từ nhiều Nguồn khác nhau.
Mục đích: note lại bài Hướng dẫn hay và Đáng đọc.
Kết quả: nghiện Internet Nặng.
Tương lại: xuống lỗ Vẫn Nghiện nếu không có ai giúp.
Blog Web của: Trí Dũng đến từ Việt Nam - Liên kết đến trang Blog Cá Nhân
Tôi biết (^_^)
Thông tin về Tác giả. Chi Tiết
Sử dụng (FireFox | Google Chrome on Ubuntu) để xem tốt nhất. Học Nhiều Hơn Tại Đây
©2009 Google Blogger - HuuNguyen's Home