22 tháng 1, 2010

Thiết lập quyền đọc, ghi nhưng không được xóa trên UBUNTU



Sticky Bit

Setting the sticky bit tells Unix that once the concerned application is executed, it should remain in memory. Remember that Unix is a multi-user OS and was mainly designed so that multiple users can work simultaneously. Thus the logic used is that a program that exists in memory requires lesser time to start when a new user requests for the same program. Thus when one user has just used a program and then a new user wants to use the same program, the second user doesn't have to face a time delay for the program to initialize itself. It would be readily available to him. The concept of the sticky bit was a very useful one, long back when fast disk access and other memory access technologies weren't around. But in today's age the concept of sticky bit is obsolete, since modern day technology is advanced enough to reduce the time delay while loading applications into the memory. Thus currently the sticky bit is of very little significance. Sticky bit is only associated with executables.

SUID (Set User ID
) Bit

Sometime you may faced an error while trying to run any application stating that the application must be 'SUID root' . You might have been confused that time, but now once you read this article you would no longer find it confusing.

SUID stands for Set User ID. This means that if the SUID bit is set for any application then your user ID would be set as that of the owner of application/file rather than the current user, while running that application. That means in case I have an application whose owner is ' root ' and it has its SUID bit set, then when I run this application as a normal user, that application would still run as root. Since the SUID bit tells Linux that the the User ID root is set for this application and whenever this application executes it must execute as if root was executing it (since root owns this file).

In case you have really understood the above you may be wondering - isnt this a major security risk? If users are able to run applications as root, then it must be definitely posing as a threat to the security of the system. Actually the SUID is used to increase the security in a way. Let me explain this with my own example I use on my machine.

SGID (Set Group ID) bit

Just like SUID, setting the SGID bit for a file sets your group ID to the file's group while the file is executing. IT is really useful in case you have a real multi-user setup where users access each others files. As a single homeuser I haven't really found a lot of use for SGID. But the basic concept is the same as the SUID, the files whose SGID bit are set would be used as if they belong to that group rather than to that user alone.
u = user
g = group
o = others
+ = add
w = write (permission)
s = set sticky bit


g+w = set write permission for group
g+s = setgid (set sticky bit for group)
u+w = set write permission for user
-->đọc tiếp...

21 tháng 1, 2010

RAID 5 trên Ubuntu với mdadm

Bước 1: Chuẩn bị hiện vật :D (Prepare the Disks)

- Các ổ đĩa (disk) phải được định dạng (format) ext3, sau đó dùng trình Gnome Partition Editor để đánh dấu RAID. Trình Gnome Partition Editor nếu chưa được cài đặt bác có thể cài như sau:


sudo apt-get install gparted

Sau khi cài đặt xong Gnome Partition Editor, chạy nó, trong cửa sổ chương trình bác chọn các ổ đĩa cần định dạng sang ext3. Lưu ý... dữ liệu sẽ mất sạch:D Sau khi mỗi ổ đĩa đã được định dạng xong, click chuột phải vào ổ đĩa cần RAID chọn "Manage Flags" và đánh dấu vào cờ "RAID". Xem hình dưới đây:
Hình ảnh
Sau khi lần lượt thịt xong từng em ổ đĩa một, ta chuyển sang bước 2 :D

Bước 2: Tạo ổ đĩa ánh xạ bằng phần mềm mdadm (Mirrored Device Admin)
mdadm là phần mềm raid arrays dùng cho linux, nếu trên máy chưa có cài đặt như sau:

sudo apt-get install mdadm

Ta có thể khởi tạo RAID volume (md0) bằng cách:

sudo mdadm --create --verbose /dev/md0 --level=5 --raid-devices=3 /dev/sda1 /dev/sdb1 /dev/sdc1

--verbose hiển thị thông tin RAID được tạo
--level=5 chỉ thị tạo RAID-5
--raid-devices=3 chỉ thị tạo 3 thành phần của RAID (Lưu ý, ví dụ này dùng cho việc khởi tạo Raid 5 từ 3 HDD)
Để xem thêm các thông tin trợ giúp gõ: mdadm --help-options
RAID (md0) sẽ được tạo, nếu có lỗi sau xuất hiện:
mdadm: error opening /dev/md0: No such file or directory
thì thêm tham số --auto=md vào cuối lệnh tạo của mdadm.
Có thể dùng lệnh sudo watch cat /proc/mdstat để theo dõi tiến trình, sau 2 giây sẽ refresh 1 lần. Để thoát bấm CTRL+C.
Hình ảnh

Để khởi tạo Raid aray mới cài đặt trong những lần khởi động kế tiếp, chúng ta phải biên tập tệp mdadm.conf bằng cách:

sudo echo "DEVICE partitions" > /etc/mdadm/mdadm.conf
sudo mdadm --detail --scan >> /etc/mdadm/mdadm.conf

Bước 3: Tạo tệp hệ thống và điểm gắn

sudo mke2fs -j /dev/md0

Làm ngụm trà và waiting.... Sau khi chạy xong, sửa file fstab để tạo điểm gắn tự động cho lần khởi động tiếp theo cho RAID-5. Vi dụ gắn vào /var/media thì thêm vào file /etc/fstab như sau:

/dev/md0 /var/media auto defaults 0 3

khởi động lại máy và xem kết quả
Xem chi tiết tại hướng dẫn gốc
-->đọc tiếp...

20 tháng 1, 2010

Giá khớp lệnh được xác định như thế nào?

Hỏi: Em mới tìm hiểu về thị trường chứng khoán và có một số vẫn đề em chưa hiểu rõ lắm. Em xin hỏi giá khớp lệnh được xác định như thế nào?

Trả lời:

Giá khớp lệnh là mức giá được xác định từ kết quả khớp lệnh của Trung tâm giao dịch chứng khoán, thoả mãn được nhu cầu của người mua và người bán và áp dụng cho tất cả các lệnh được thực hiện. Giá khớp lệnh được hình thành trên cơ sở gộp khối lượng cổ phần đặt mua hợp lệ đảm bảo sao cho số lượng cổ phần bán đấu giá được phân phối tối đa cho các nhà đầu tư. Đặc biệt, nhà đầu tư đặt mua cổ phần ở mức giá cao hơn giá khớp lệnh sẽ được mua số cổ phần đăng ký ở mức giá khớp lệnh.

Trong mỗi phiên giao dịch, giá giao dịch của mỗi loại chứng khoán được hình thành sau khi khớp các lệnh được nhập vào hệ thống theo trình tự nguyên tắc ưu tiên sau:

* Ưu tiên về mức giá:
  • Lệnh MUA có mức giá CAO hơn sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
  • Lệnh BÁN có mức giá THẤP hơn sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
* Ưu tiên về thời gian:

Trường hợp các lệnh mua bán có cùng mức giá thì lệnh nào nhập trước vào hệ thống giao dịch được ưu tiên thực hiện trước.

*Ưu tiên về khối lượng:

Nếu cả mức giá và thời gian đều như nhau thì lệnh nào có khối lượng lớn hơn sẽ được ưu tiên thực hiện trước.

Giá giao dịch được xác định theo nguyên tắc:
  • Là mức giá thực hiện được khối lượng giao dịch lớn nhất.
  • Nếu có nhiều mức giá cùng thoả mãn khối lượng giao dịch lớn nhất thì chọn mức giá gần với giá tham chiếu
  • Nếu vẫn có nhiều mức giá thoả mãn 2 nguyên tắc trên thì mức giá cao nhất sẽ được chọn.
-->đọc tiếp...

Một số kiến thức cơ bản tiếp cận TTCK

Đại khái bạn có thể hình dung TTCK này như một cái chợ vậy,
khi cung nhiều thì giá CP sẽ xuống và ngược lại giá CP sẽ lên,
còn có muakhông có bán đáp ứng thì dư mua,
có bánkhông có mua thì dư bán,
giá 1,2,3 là giá tốt nhứt được hiện lên bảng giá, 
giá tham chiếugiá đóng cửa phiên cuối cùng của ngày hôm trước (đối với sàn hose)
còn đối với sàn hastc là giá bình quân,

khớp lệnh khi có lệnh đối ứng gặp nhau,
ở sàn hose có 3 phiên
từ 8h30 tới 9hphiên mở cửa,
từ 9h tới 10h15phiên khớp lệnh liên tục,
từ 10h15 tới 10h30phiên đóng cửa (kết thúc ngày giao dịch) để lấy giá tham chiếu cho ngày hôm sau,
còn sàn hastc thì bắt đầu cũng từ 8h30 và khớp lệnh liên tục cho tới khi kết thúc ngày giao dịch, giao dịch thỏa thuận bắt đầu khi sàn hose đóng cửa và kết thúc cùng sàn hastc, giao dịch thỏa thận dành cho những lô lớn từ 10k trở lên, giá 25,4 đúng là 25.400 đ
PS: tìm đọc thêm tài liệu trên trang web của sở giao dịch chứng khoán TP.HCM http://www.hsx.com.vn/ và tiếp cận thực tế ( đây chỉ là kiến thức cơ bản và qui định của của sở giao dịch chứng khoán TP.HCM thôi
-->đọc tiếp...

Hướng dẫn cách xem bảng giá chứng khoán điện tử niêm yết trên HOSE

Mỗi một công ty chứng khoán có một bảng giá chứng khoán khác nhau nhưng chung chung thì vẫn phải hiển thị những thông tin cơ bản nhất của một bảng giá, khác hay chăng cũng chỉ là ở cách sắp xếp và bố trí sao cho nhà đầu tư tiện theo dõi và thêm một vài tính năng để vượt trội hơn chút đỉnh so với các CTCK khác mà thôi. Ở đây mình sẽ hướng dẫn các bạn xem bảng của FPTS, theo mình thấy nó khá đầy đủ, dễ nhìn, tốc độ nhanh (có lẽ vì vậy mà trên Trang chủ thuchanhchungkhoan cũng có đường dẫn tới bảng giá này) và vì mình cũng “kết” nó nữa.
Dưới đây chỉ là những phần mà nhiều nhà đầu tư mới hay hỏi nhất, bạn nào cần hỏi phần nào khác cứ gửi bài tại đây nhé!
Từ trái qua phải:
- Mã CK: tên của công ty niêm yết được viết tắt hoặc lấy ngắn gọn bởi các chữ cái đầu (có thể lấy theo chữ cái đầu viết bằng Tiếng Anh, Tiếng Việt hoặc tên viết tắt). Ví dụ:
ABT - Tên công ty là CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN BẾN TRE. Tên viết tắt là: AQUATEX BENTRE. Như vậy mã ABT lấy các chữ cái sau (chữ đậm): AQUATEX BENTRE.
- Trần: giá trần của mã chứng khoán đó (nhà đầu tư chỉ được phép đặt lệnh với giá tối đa bằng hoặc nhỏ hơn giá này)
- Sàn: giá sàn của mã chứng khoán đó (nhà đầu tư chỉ được phép đặt lệnh với giá tối thiểu bằng hoặc lớn hơn giá này)
- TC: giá tham chiếu của mã chứng khoán đó (từ giá tham chiếu này cộng thêm 5% thì ra giá trần, và trừ đi 5% thì ra giá sàn)
- Dư mua: những lệnh còn chờ mua chưa được khớp
+ Giá 3, KL 3; Giá 2, KL 2; Giá 1, KL 1: KL là khối lượng, Giá 1 là giá đang có lệnh chờ mua cao nhất (tốt nhất) tương ứng với khối lượng ngay bên cạnh, rồi đến Giá 2 là giá chờ mua cao tiếp theo và cuối cùng là Giá 3
- Giá khớp: mức giá gần nhất vừa khớp lệnh
- KL khớp: khối lượng gần nhất vừa khớp lệnh tương ứng với Giá khớp bên trái mà mình vừa nói
- +/-: giá khớp thay đổi so với cột TC. Được tính bằng cách lấy cột Giá khớp trừ đi cột TC.
- Dư bán: những lệnh còn chờ mua chưa được khớp
+ Giá 3, KL 3; Giá 2, KL 2; Giá 1, KL 1: KL vẫn là khối lượng, ở bên cột dư bán này thì Giá 1 là giá đang có lệnh chờ bán thấp nhất (tốt nhất) tương ứng với khối lượng ngay bên cạnh, rồi đến Giá 2 là giá chờ bán thấp tiếp theo và cuối cùng là Giá 3
- Tổng KL: Tổng khối lượng đã được khớp từ đầu phiên đến thời điểm hiện tại
- Mở cửa: mức giá đã khớp sau khi kết thúc phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa
- Cao nhất: mức giá đã được khớp cao nhất từ đầu phiên đến thời điểm hiện tại
- Thấp nhất: mức giá đã được khớp thấp nhất từ đầu phiên đến thời điểm hiện tại
- NN mua: nước ngoài mua, hiển thị tổng cộng khối lượng mà nhà đầu tư nước ngoài đã mua
• Lưu ý:
- Các bạn thấy cột Mở cửa mà không thấy cột Đóng cửa đúng không? Giá đóng cửa chính là giá hiển thị ở cột Giá khớp sau 10h30’ (thời điểm kết thúc phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa đó)
- Màu sắc:
+ Giá hiển thị màu tím tương đương với giá trần
+ Giá hiển thị màu xanh nhạt tương đương với giá sàn
+ Giá hiển thị màu vàng tương đương với giá tham chiếu
+ Giá hiển thị màu xanh lá cây tương đương với việc giá tăng so với giá tham chiếu
+ Giá hiển thị màu đỏ tương đương với việc giá giảm so với giá tham chiếu
Tương tự màu sắc hiển thị như trên với mũi tên tăng giá (màu xanh lá cây), mũi tên giảm giá (màu đỏ) và gạch ngang đứng giá (màu vàng).
Chúc các bạn thành công!
Bảng chứng khoán
Trong bài học Bảng 1 & Bảng 2
-->đọc tiếp...

Chuyện Ngụ Ngôn: Gà Đại Bàng

Ngày xưa, có một ngọn núi lớn, bên sườn núi có một tổ chim đại bàng. Trong tổ có bốn quả trứng lớn. Một trận động đất xảy ra làm rung chuyển ngọn núi, một quả trứng đại bàng lăn xuống và rơi vào một trại gà dưới chân núi. Một con gà mái tình nguyện ấp quả trứng lớn ấy.



Một ngày kia, trứng nở ra một chú đại bàng con xinh đẹp, nhưng buồn thay chú chim nhỏ được nuôi lớn như một con gà. Chẳng bao lâu sau, đại bàng cũng tin nó chỉ là một con gà không hơn không kém. Đại bàng yêu gia đình và ngôi nhà đang sống, nhưng tâm hồn nó vẫn khao khát một điều gì đó cao xa hơn. Cho đến một ngày, trong khi đang chơi đùa trong sân, đại bàng nhìn lên trời và thấy những chú chim đại bàng đang sải cánh bay cao giữa bầu trời.

"Ồ - đại bàng kêu lên - Ước gì tôi có thể bay như những con chim đó".

Bầy gà cười ầm lên: "Anh không thể bay với những con chim đó được. Anh là một con gà và gà không biết bay cao".

Đại bàng tiếp tục ngước nhìn gia đình thật sự của nó, mơ ước có thể bay cao cùng họ. Mỗi lần đại bàng nói ra mơ ước của mình, bầy gà lại bảo nó điều không thể xảy ra. Đó là điều đại bàng cuối cùng đã tin là thật. Rồi đại bàng không mơ ước nữa và tiếp tục sống như một con gà. Cuối cùng, sau một thời gian dài sống làm gà, đại bàng chết.

Trong cuộc sống cũng vậy: Nếu bạn tin rằng bạn là một người tầm thường, bạn sẽ sống một cuộc sống tầm thường vô vị, đúng như những gì mình đã tin. Vậy thì, nếu bạn đã từng mơ ước trở thành đại bàng, bạn hãy đeo đuổi ước mơ đó... và đừng sống như một con gà!
-->đọc tiếp...

tổng hợp tư liệu và trả lời chung về một số điều cần biết của Lưu ký chứng khoán

Lưu ký chứng khoán là một trong những điều kiện để thực hiện giao dịch trên thị trường chứng khoán. Trước khi thực hiện giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư phải ký hợp đồng mở tài khoản tại các thành viên lưu ký.
Lưu ký là việc gửi chứng chỉ chứng khoán tờ cổ phiếu, trái phiếu, hoặc các loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thống lưu ký chứng khoán.
Hệ thống lưu ký chứng khoán bao gồm Trung tâm lưu ký và các thành viên lưu ký. Chứng chỉ chứng khoán của nhà đầu tư sẽ được cất giữ an toàn tại Trung tâm lưu ký. Chứng khoán đã được lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên nhà đầu tư. Khi chứng khoán được giao dịch, tài khoản của nhà đầu tư sẽ được ghi tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉ chứng khoán.
Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứng khoán được giao dịch qua sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Trung tâm giao dịch chứng khoán hiện nay đóng vai trò là Trung tâm lưu ký. Việc lưu ký chứng khoán chỉ được thực hiện tại các thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Các thành viên lưu ký bao gồm các công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại đã được Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp phép hoạt động lưu ký và đã đăng ký làm thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Trước đây nhà đầu tư trong nước chỉ được lưu ký chứng khoán tại thành viên lưu ký trong nước - là các công ty chứng khoán hoặc các ngân hàng thương mại trong nước, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được lưu ký tại thành viên lưu ký nước ngoài - là các công ty chứng khoán liên doanh với nước ngoài hoặc các ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài hoặc các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Tuy nhiên, quy định này đã được thay đổi, theo Quyết định số 51/2003/QĐ-BTC ngày 15-04-2003 của Bộ Tài Chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán, nhà đầu tư trong và ngoài có thể mở tài khoản lưu ký chứng khoán ở bất kỳ thành viên lưu ký nào.
Việc lưu ký chứng khoán sẽ được bắt đầu bằng các thủ tục mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại thành viên lưu ký. Các chứng khoán sau khi được lưu ký tại thành viên lưu ký sẽ được thành viên lưu ký tái lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Sau khi thành viên hoàn tất việc tái lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thì chứng khoán đó mới được phép giao dịch. Chứng khoán lưu ký của nhà đầu tư được cất giữ tại kho của Trung tâm giao dịch chứng khoán dưới dạng quản lý tổng hợp. Chứng khoán của nhà đầu tư lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán được quản lý riêng biệt với chứng khoán của chính thành viên lưu ký.
Theo quy định hiện hành, mỗi nhà đầu tư chỉ được mở một tài khoản lưu ký tại một thành viên lưu ký. Do vậy nhà đầu tư cần tìm hiểu trước để lựa chọn một thành viên lưu ký thích hợp cho mình. Trong trường hợp muốn đổi sang một thành viên lưu ký khác, nhà đầu tư sẽ mở tài khoản lưu ký mới tại thành viên lưu ký mới, đồng thời phải làm các thủ tục đóng tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký cũ  và yêu cầu thành viên lưu ký này chuyển số dư chứng khoán sang tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký mới.
Khi mở tài khoản lưu ký, nhà đầu tư nên cung cấp địa chỉ liên lạc rõ ràng, chính xác và đầy đủ cho thành viên lưu ký. Điều này rất quan trọng vì nhà đầu tư có thể gặp phải những bất tiện và thậm chí thiệt hại sau này.
Chẳng hạn, khi địa chỉ trên các loại giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân được sử dụng để làm các thủ tục mở tài khoản lưu ký, trong khi địa chỉ cư trú hiện tại khác với địa chỉ trên chứng minh nhân dân. Các thư từ liên lạc của tổ chức phát hành, Trung tâm giao dịch chứng khoán và thành viên lưu ký trong thời gian thực hiện quyền sẽ không đến đúng nơi nhà đầu tư ở. Việc này có thể đưa đến vô số bất tiện trong quá trình xử lý quyền từ thành viên lưu ký, Trung tâm giao dịch chứng khoán cho đến tổ chức phát hành như chậm trễ, chỉnh sửa hồ sơ thực hiện quyền, hoặc thậm chí đôi khi nhà đầu tư bị từ chối phân bổ quyền.
Người đứng tên lưu ký chứng khoán phải chính là chủ sở hữu chứng khoán, kể cả cổ phiếu vô danh. Số xê-ri của tờ chứng chỉ chứng khoán cũng phải đúng là số xê-ri của chủ sở hữu đã đăng ký quyền sở hữu tại tổ chức phát hành. Đối với cổ phiếu ghi danh, nếu chủ sở hữu là người được chuyển nhượng hợp pháp trước khi có hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán, thì mặt sau của tờ chứng chỉ phải có chữ ký của người chuyển nhượng liền kề trước đó và chữ ký của người có thẩm quyền và con dấu của tổ chức phát hành xác nhận việc chuyển nhượng đó. Nếu các yếu tố này không đúng như vậy, chứng khoán sẽ bị từ chối lưu ký
Các tờ chứng chỉ chứng khoán bị hỏng, bị nhòe không thể nhận diện được các thông tin cơ bản trên đó sẽ bị từ chối lưu ký. Trong trường hợp này cần liên hệ với tổ chức phát hành để xin được đổi lại tờ chứng chỉ chứng khoán mới.
Các chứng chỉ chứng khoán thuộc diện bị thông báo mất cắp hoặc giả mạo sẽ bị tạm giữ để giao cho tổ chức phát hành hoặc cơ quan có thẩm quyền để xử lý.
Cổ phiếu của cổ đông sáng lập vẫn còn trong thời gian nắm giữ theo quy định của pháp luật, của cổ đông mua chịu chưa thanh toán hết tiền mua cổ phiếu vẫn được lưu ký nhưng không được phép giao dịch. Các cổ phiếu này chỉ được phép giao dịch khi các điều kiện hạn chế đã được bãi bỏ và phải có xác nhận từ tổ chức phát hành. Ví dụ như cổ phiếu mua chịu đã thanh toán hết, muốn được giao dịch phải có văn bản xác nhận của tổ chức phát hành.
Các chủ sở hữu cổ phiếu theo hình thức ghi sổ muốn lưu ký vẫn tiến hành các thủ tục lưu ký bình thường tại thành viên lưu ký. Dĩ nhiên trong trường hợp này không có việc chuyển giao chứng chỉ vật chất. Thành viên lưu ký sẽ gửi tên chủ sở hữu đến tổ chức phát hành. Sau khi kiểm tra, tổ chức phát hành sẽ gửi tên chủ sở hữu đến Trung tâm giao dịch chứng khoán để thực hiện việc lưu ký. Lưu ký theo hình thức ghi sổ là xu hướng chủ yếu hiện nay vì những ưu điểm hơn hẳn lưu ký chứng chỉ vật chất, là không phải qua kiểm đếm, kiểm tra tính thật giả, và tốn kém cho công tác bảo quản.
Trung tâm giao dịch chứng khoán là người được ủy quyền thay mặt người đồng sở hữu chứng khoán lưu ký nhận các quyền được hưởng từ tổ chức phát hành như cổ tức, lãi trái phiếu, cổ phiếu thưởng.
TS
-->đọc tiếp...

Chỉ số VN - Index

Chỉ số VN - Index thể hiện biến động giá cổ phiếu giao dịch tại TTGDCK TP.HCM. Công thức tính chỉ số áp dụng đối với toàn bộ các cổ phiếu niêm yết tại TTGDCK nhằm thể hiện xu hướng giá cổ phiếu hàng ngày.
Chỉ số VN -Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ sở vào ngày gốc 28-7-2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động.
Giá trị thị trường cơ sở trong công thức tính chỉ số được điều chỉnh trong các trường hợp như niêm yết mới, huỷ niêm yết và các trường hợp có thay đổi về vốn niêm yết.
Công thức tính chỉ số VN - Index:
Chỉ số VN -Index = (Giá trị thị trường hiện hành / Giá trị thị trường cơ sở) x 100
TTCK va chi so VN Index
Trong đó:
Pit: Giá thị trường hiện hành của cổ phiếu i
Qit: Số lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu i
Pi0: Giá thị trường vào ngày gốc của cổ phiếu i
Qi0: Số lượng niêm yết vào ngày gốc của cổ phiếu i
-->đọc tiếp...

Cổ phiếu khác trái phiếu ở điểm nào?

Cổ phiếu thường được gọi là chứng khoán vốn, trong khi trái phiếu được gọi là chứng khoán nợ.
Một nhà đầu tư khi nắm giữ cổ phiếu của một doanh nghiệp trên TTCK, nhà đầu tư đó có quyền làm chủ một phần của doanh nghiệp đó, tương đương với trị giá cổ phiếu mình có.
Ngược lại, khi một nhà đầu tư nắm giữ một số trái phiếu của một doanh nghiệp trên TTCK, nhà đầu tư đó là chủ nợ của doanh nghiệp với trị giá trái phiếu người ấy đang nắm giữ.
Giữa trái phiếu và cổ phiếu có một gạch nối liên kết, đó là trường hợp trái phiếu chuyển đổi được. Khi bắt đầu, nhà đầu tư mua trái phiếu, tức là cho doanh nghiệp vay một số tiền bằng trị giá mua trái phiếu (tất nhiên phải tính trừ phí hoa hồng môi giới...), nhưng nhà đầu tư vẫn kỳ vọng rằng đây là doanh nghiệp sẽ có lãi và có tương lai phát triển với mức thu nhập cao, nhà đầu tư đưa ra điều kiện là từng phần hoặc toàn phần trị giá trái phiếu sẽ được chuyển đổi thành cổ phiếu.
Khi đó từ vai trò chủ nợ, nhà đầu tư trở thành một trong các sở hữu chủ của doanh nghiệp và chuyển chứng khoán nợ thành chứng khoán vốn.
TS
-->đọc tiếp...

6 yếu tố xác định giá chứng khoán

Là nhà đầu tư chứng khoán, bạn còn cần phải xác định được giá CK. Việc cổ phiếu (CP) đó đáng giá bao nhiêu, lúc nào nên mua-bán là câu hỏi mà bất cứ nhà đầu tư nào cũng mong mình giải đúng.
Có 6 yếu tố để bạn có thể phân tích giá trị của một cổ phiếu:
Phân tích cơ bản
Điều mà nhà phân tích cơ bản coi như kim chỉ nam chính là cho rằng giá trị thực của một công ty có mối quan hệ mật thiết với các đặc tính tài chính như: khả năng phát triển; những rủi ro mà công ty có thể gặp phải; dòng tiền mặt... Bất kỳ một sự chệch hướng nào so với giá trị thực cũng là dấu hiệu cho thấy CP đó đang ở dưới hoặc vượt quá giá trị thực.
Một chiến lược đầu tư dài hạn thường dựa vào những giả thiết như:
- Mối quan hệ giữa giá trị và các yếu tố tài chính là có thể đo lường được.
- Mối quan hệ này ổn định trong một khoảng thời gian đủ dài.
- Các sai lệch của mối quan hệ sẽ được điều chỉnh lại vào thời điểm thích hợp.
Giá trị là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản. Một số nhà phân tích thường sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền mặt để xác định giá trị của công ty, trong khi đó một số người lại sử dụng tỷ số giá trên thu nhập (P/E) hoặc giá trị số tích...
Khi những nhà phân tích này nắm giữ một số lượng lớn các CP đang ở dưới giá trị trong danh mục đầu tư nghĩa là họ đang nuôi hy vọng danh mục này sẽ đem lại một mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của thị trường.
Mua đặc quyền kinh doanh
Nhà mua đặc quyền kinh doanh thường tập trung vào một số ít các công ty mà họ hiểu rõ và họ sẽ tiến hành mua CP khi những công ty này đang ở dưới giá trị thực. Thường thì nhà mua đặc quyền kinh doanh sẽ có ảnh hưởng lên Ban quản lý và có thể thay đổi chính sách tài chính hoặc chính sách đầu tư của công ty.
Trên khía cạnh đầu tư dài hạn thì:
- Nhà đầu tư hiểu rõ công ty sẽ ở vị thế tốt hơn trong định giá công ty.
- Có thể mua những công ty ở dưới giá trị thực mà không làm cho giá của chúng tiến đến gần giá trị thực.
Giá trị cũng đóng vai trò chủ chốt và nhà mua đặc quyền kinh doanh sẽ hướng sự chú ý của mình vào những công ty mà họ tin tưởng công ty đó đang ở dưới giá. Ngoài ra, họ cũng quan tâm tìm hiểu xem họ sẽ gia tăng được thêm bao nhiêu giá trị cho công ty nếu họ có thể tái cơ cấu lại công ty.
Biểu đồ (phân tích kỹ thuật)
Những nhà phân tích kỹ thuật tin tưởng rằng phần giá cả dao động do tâm lý của các nhà đầu tư ít nhất cũng bằng phần dao động do các yếu tố tài chính. Những thông tin có sẵn như dao động giá, khối lượng giao dịch, bán khống... sẽ cung cấp những chỉ báo về tâm lý của nhà đầu tư về dao động giá trong lương lai.
Nhưng nhìn chung có thể thấy các nhà đầu tư cá thể đầu tư theo cảm tính nhiều hơn là đầu tư theo các phân tích hợp lý.
Trong khi giá trị không đóng vai trò chính trong phân tích kỹ thuật thì cũng có nhiều con đường để nhà phân tích kỹ thuật có thể kết hợp vào phân tích. Giá trị có thể được sử dụng ví dụ như để quyết định đường hỗ trợ hoặc kháng cự trên biểu đồ giá.
Trên một biểu đồ đường hỗ trợ thường căn cứ vào điểm dưới mà dưới điểm đó giá có khuynh hướng ngừng giảm, còn đường kháng cự được căn cứ vào điểm trên mà trên điểm đó giá có khuynh hướng ngừng tăng. Những mức này thường được dự tính theo giá quá khứ, biên độ của giá tính theo phương pháp giá trị có thể được sử dụng để quyết định. Có nghĩa là giá trị tối đa sẽ trở thành mức kháng cự và giá trị tối thiểu sẽ trở thành đường hỗ trợ.
Thông tin
Giá cả lên xuống phụ thuộc vào thông tin về công ty. Những nhà giao dịch căn cứ vào thông tin giao dịch (dựa trên lợi thế thông tin mới hoặc ngay sau khi thông tin được công bố trên thị trường), họ sẽ mua vào khi có tin tốt và bán ra khi có tin xấu. Giả thiết được đưa ra là các nhà giao dịch có thể dự đoán thông tin sắp công bố và đánh giá được phản ứng của thị trường tốt hơn nhà đầu tư thông thường.
Đối với nhà kinh doanh dựa vào thông tin thì việc nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin và sự thay đổi giá là quan trọng hơn việc nghiên cứu giá trị. Do đó, nhà kinh doanh này có thể mua một công ty có giá vượt quá giá trị thực dựa trên niềm tin rằng thông tin kế tiếp là những thông tin tốt, vượt mức mong đợi và sẽ đẩy được giá lên.
Như vậy, nếu có mối quan hệ trong việc công ty ở dưới giá, trên giá và xác định được cơ chế của giá CP phản ứng lại những thông tin trên thị trường thì nhà đầu tư dựa trên thông tin sẽ có những quyết định đầu tư hợp lý.
Thời điểm
Những nhà đầu tư thời điểm cho rằng dự đoán thay đổi của cả thị trường thì dễ hơn việc chọn lựa cụ thể một CP nào đó và như vậy việc dự đoán được dựa trên những yếu tố có thể quan sát được.
Trong khi việc xác định giá trị của một CP có thể không sử dụng công cụ của nhà phân tích thời điểm thì chiến lược tính toán thời điểm thị trường lại có thể sử dụng công cụ giá trị bằng ít nhất hai cách sau:
- Tổng thị trường tự nó được định giá và so sánh theo thời điểm hiện tại.
- Mô hình giá trị có thể được sử dụng để tính toán giá trị của tất cả các CP và kết quả từ việc kiểm tra chéo có thể được sử dụng để quyết định xem thị trường đang ở dưới hoặc trên giá trị thực của nó.
Thị trường hiệu quả
Những nhà thị trường hiệu quả tin tưởng rằng giá cả tại một thời điểm nào đại diện cho dự đoán tốt nhất về giá trị thực của công ty và bất cứ dự định nào nhằm hưởng lợi từ thị trường hiệu quả sẽ tốn kém hơn là lợi nhuận thu được. Họ cho rằng thị trường thích hợp thông tin một cách nhanh chóng, chính xác và các nhà đầu tư theo kiểu vay-mua sẽ lập tức lấp đầy những khoảng không hiệu quả.
Đối với nhà phân tích thị trường hiệu quả thì giá trị là một công cụ kiểm tra hữu hiệu để hiểu rõ tại sao một CP được bán ở mức giá đó. Kể từ khi giả thiết giá thị trường là dự đoán tốt nhất đối với giá trị thực của công ty thì đối tượng quyết định đối với giả thiết này là phân tích tác động của mức tăng trưởng và rủi ro trong giá thị trường hơn là việc tìm kiếm công ty ở dưới hoặc lên giá trị thực.
TS
-->đọc tiếp...

Một số chỉ tiêu cơ bản để lựa chọn cổ phiếu tốt

Investor"s Business Daily (IBD) là tờ nhật báo của một tổ chức tư vấn và đầu tư uy tín trên thị TTCK quốc tế. Dưới đây là một số gợi ý đánh giá CP tốt mà IBD đưa ra.
Chỉ tiêu lợi nhuận
Thu nhập dòng hay lợi nhuận sau thuế có thể được xem xét bằng tổng lợi nhuận hay xét trên một đơn vị CP (Earnings Per Share - EPS). Một Cty có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng thu nhập khi tốc độ tăng trưởng thu nhập của quý sau cao hơn quý trước.
Một CP tốt có tốc độ gia tăng về tăng trưởng thu nhập cao hơn so với 3 hay 4 quý trước liền kề. Tăng trưởng của chỉ số thu nhập ít nhất là 25% so với cùng quý của năm trước. (Earnings Per Share - EPS)hàng năm của CP tốt ít nhất phải tăng trưởng 25% so với 3 năm trước đó.
Theo cách nghĩ thông thường thì nên chọn mua những CP có P/E thấp (P/E: Chỉ số giá chia cho thu nhập của mỗi CP), và cho rằng những CP có chỉ số này cao là đắt và không nên mua.
Thực tế cho thấy, những CP tốt nhất thường có chỉ số này cao. Nên chọn CP của những Cty thua lỗ trước khi Cty đó trở lại trạng thái có lãi khi các nhà đầu tư khác phát hiện ra nó.
Một số tiêu chí chọn lựa CP căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận bao gồm: Dựa vào thực hiện thu nhập quan trọng hơn thu nhập dự kiến; lựa chọn những Công ty có tốc độ tăng trưởng thu nhập ít nhất 25% ở quý gần nhất; lựa chọn Cty có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng thu nhập ở 3 hay 4 quý gần nhất; lựa chọn Công ty có thu nhập hàng năm tăng trưởng ít nhất 25% so với mỗi năm của 3 năm trước.
Lượng hàng bán (doanh thu)
Lượng hàng bán là chỉ tiêu quan trọng nhất để đo lường một Công ty có sức mạnh hay không và là nhân tố chính của tăng trưởng. Khi chọn lựa CP tốt hãy tìm Công ty có tốc độ bán hàng mạnh để làm tiền đề cho tăng trưởng thu nhập.
Một số biểu hiện có thể xem xét khi một Công ty gia tăng lượng hàng bán như nhiều khách hàng hơn, khách hàng tăng lượng mua, Công ty giới thiệu sản phẩm mới hoặc thâm nhập vào thị trường mới, Công ty cải thiện sản phẩm cũ.
Tiêu chí để xác định Công ty có tăng trưởng bán hàng tốt nếu 3 quý gần nhất có sự tăng lượng hàng bán lớn hơn hoặc bằng 25% so với quý gần nhất trước đó.
Cần xem xét kỹ chỉ tiêu doanh thu vì đôi khi lượng hàng bán vẫn ẩn chứa những vấn đề. Công ty có thể quá phụ thuộc vào một số khách hàng, phụ thuộc quá nhiều vào một số mặt hàng hay quá phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu.
Với những nhà bán lẻ, nếu mở thêm một cửa hàng mới cũng làm tăng thêm lượng hàng bán ngay cả khi lượng hàng bán ở những cửa hàng cũ đang xấu đi.
Cũng cần lưu ý đến việc Công ty thêm vào lượng hàng bán được mà thực tế nó chưa xảy ra, hay các đơn đặt hàng mà không được chuyển đi hay chưa thu được tiền bán đã được hạch toán làm gia tăng lượng hàng bán.
Chỉ tiêu lợi nhuận/doanh thu
Lợi nhuận dòng đánh giá tỉ lệ chuyển doanh thu thành thu nhập. Trên quan điểm của nhà đầu tư, nên tìm những Công ty có sự tăng về tỉ lệ lợi nhuận dòng/doanh thu. Con số này càng lớn thì Công ty có sự tốt lên về quản lý và có sự tốt lên trong các hoạt động.
Lợi nhuận dòng có thể là đầu mối chủ yếu tìm CP để mua và nên so sánh chỉ số này giữa các Công ty có ngành nghề tương đồng. Tiêu chí để xác định cho chỉ tiêu này là lợi nhuận trước thuế ít nhất đạt 18% doanh thu. Yêu cầu lợi nhuận sau thuế luôn đạt 10% trở lên.
Tuy nhiên, cũng cần phải xét cả những chỉ tiêu cơ bản khác như tăng truởng thu nhập. Mức tăng về lợi nhuận dòng sẽ ít đi nếu doanh thu giảm, ngoại trừ có sự thay đổi về chiến lược của Công ty khi cắt giảm những dây chuyền sản xuất không hiệu quả. Nếu lợi nhuận có xu hướng giảm, đó có thể là tín hiệu cho thấy Công ty đang đánh mất lợi thế cạnh tranh.
Chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Đây là chỉ tiêu phổ biến nhất để đánh giá sự hiệu quả của hoạt động tài chính đóng góp cho sự phát triển của Công ty. ROE cho biết Cty sử dụng tiền của cổ đông có tốt hay không. Chỉ số này tăng cao hàng năm phản ánh tiềm năng tăng lợi nhuận và quản lý hiệu quả.
Nói chung, nên tránh những Công ty có chỉ số này nhỏ hơn 17%. Hầu hết mọi ngành, chỉ số này của những Cty hàng đầu thường đạt trong khoảng 20% đến 30%, cá biệt có những Công ty đạt trên 40%. Chỉ số này có xu hướng cao lên theo thời gian do việc áp dụng những công nghệ mới đã cắt giảm chi phí và nâng cao năng suất.
Theo Hoàng Lan - Lao Động
-->đọc tiếp...

5 hệ số đánh giá doanh nghiệp

TS - Đầu tư vào chứng khoán, bạn còn phải biết cách đánh giá hiệu quả sinh lợi của doanh nghiệp mà bạn chọn mua cổ phiếu.

5 hệ số cơ bản sau được xét tới trong việc đánh giá lợi nhuận này: hệ số tổng lợi nhuận; hệ số lợi nhuận hoạt động; hệ số lợi nhuận ròng; hệ số thu nhập trên vốn cổ phần; và hệ số thu nhập trên đầu tư

Hệ số tổng lợi nhuận

Hệ số này cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp.

Hệ số tổng lợi nhuận = (Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua) / Doanh số bán

Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành. Nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.

Hệ số lợi nhuận hoạt động

Hệ số này cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/doanh thu

Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.

Hệ số lợi nhuận ròng

Hệ số này phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó.

Hệ số lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu.


Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực..) tốt hơn thì sẽ có hệ số lợi nhuận ròng cao hơn.

Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE)

Hệ số này phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông.

ROE= Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.


Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác nhau trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác.

Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI)


Được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản.

ROI= (Thu nhập ròng/Doanh số bán) + (Doanh số bán/Tổng tài sản).

Mục đích của việc sử dụng hệ số ROI là để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập và thu nhập trên đầu tư sẽ cao.

Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - PM) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau:

P/E = PM/EPS

Trong đó giá thị trường PM của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.

Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao.

Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ..
-->đọc tiếp...

19 tháng 1, 2010

bài 4: Phát hành công chúng lần đầu- IPO

Ở bài 2-phân loại TTCK,q đã nhắc sơ qua về IPO.H sẽ học kĩ nhé..Q nhận thấy bài này hơi khó nha..cùng cố gắng nhé ...
IPO (chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh Initial Public Offering) có nghĩa là phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu. Theo thông lệ tài chính trong kinh doanh, việc phát hành này có nghĩa là một doanh nghiệp lần đầu tiên huy động vốn từ công chúng rộng rãi bằng cách phát hành các cổ phiếu phổ thông, nghĩa là cổ phiếu ghi nhận quyền sở hữu đúng nghĩa và người nắm giữ có quyền biểu quyết tương ứng trong các kỳ họp Đại hội đồng cổ đông thường niên hay bất thường. Như vậy, IPO với mỗi doanh nghiệp chỉ có một lần duy nhất, và sau khi đã IPO thì các lần tiếp theo sẽ được gọi là phát hành cổ phiếu trên thị trường thứ cấp
I.Lí do dẫn đến việc DN tiến hành IPO: huy động vốn nhằm mở rộng quy mô SX kinh doanh

II.Điều kiện IPO:

Ở Việt Nam, theo qui định của Nghị định 48/1998/-NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán và Thông tư 01/1998/TT-UBCK hướng dẫn Nghị định 48/1998/-NĐ-CP, tổ chức phát hành phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng phải đáp ứng được các điều kiện sau:
- Mức vốn điều lệ tối thiểu là 10 tỷ đồng Việt Nam;
- Hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm liên tục gần nhất;
- Thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) có kinh nghiệm quản lý kinh doanh.
- Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu.
- Số cổ đông tối thiểu là 100 người,và 100 người này phải nắm giữ tối thiểu 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành; trường hợp vốn cổ phần của tổ chức phát hành từ 100 tỷ đồng trở lên thì tỷ lệ tối thiểu này là 15% vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
- Cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành và phải nắm giữ mức này tối thiểu 3 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành.
- Trường hợp cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ đồng thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành.
III.Đấu giá thực hiện IPO

Bước 1 -Chuẩn bị đấu giá
- Cơ quan quyết định cổ phần hóa/Ban chỉ đạo cổ phần hóa xác định giá khởi điểm của cổ phần đấu giá.
- Công bố thông tin về doanh nghiệp chuẩn bị tổ chức đấu giá tối thiểu 20 ngày trước ngày tổ chức đấu giá.
- Phối hợp với cơ quan tổ chức đấu giá thuyết trình về doanh nghiệp cho nhà đầu tư nếu cần.
Bước 2 - Thực hiện đấu giá
- Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành nhận đơn đăng ký mua và tiền đặt cọc của nhà đầu tư theo quy chế đấu giá
- Nhà đầu tư bỏ phiếu tham dự đấu giá bằng các hình thức: Bỏ phiếu trực tiếp tại doanh nghiệp (nếu tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp); Bỏ phiếu trực tiếp tại tổ chức tài chính trung gian (nếu tổ chức đấu giá tại tổ chức tài chính trung gian); Bỏ phiếu trực tiếp tại Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao dịch chứng khoán và các đại lí được chỉ định; Bỏ phiếu qua đường bưu điện do cơ quan tổ chức đấu giá quy định.
Bước 3 - Tổ chức đấu giá và xác định kết quả đấu giá
- Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành các thủ tục bóc phiếu tham dự đấu giá và nhập các thông tin vào phần mềm đấu giá.
- Xác định kết quả đấu giá theo nguyên tắc lựa chọn giá đặt mua từ cao xuống thấp đến khi đủ số lượng cổ phần chào bán. Tại mức giá trúng thầu thấp nhất, với trường hợp các nhà đầu tư cùng đặt mức giá bằng nhau, nhưng tổng số cổ phần còn lại ít hơn tổng số cổ phần đăng ký mua thì số cổ phần của từng nhà đầu tư được mua xác định như sau:
Số cổ phần nhà đầu tư được mua = Số cổ phần còn lại x (Số cổ phần từng nhà đầu tư đăng ký mua/Tổng số cổ phần các nhà đầu tư đăng ký mua)
- Lập các biên bản liên quan đến buổi đấu giá gửi cho cơ quan quyết định cổ phần hóa, Ban chỉ đạo cổ phần hóa, doanh nghiệp và cơ quan tổ chức đấu giá
- Công bố kết quả đấu giá cổ phần và thu tiền mua cổ phần.
Bước 4 - Xử lý các trường hợp vi phạm quy chế đấu giá
- Việc xử lý các trường hợp vi phạm được thực hiện theo quy định của quy chế đấu giá.
- Nhà đầu tư không được nhận tiền đặt cọc nếu vi phạm quy chế đấu giá.
Bước 5: Xử lý đối với số cổ phần không bán hết trong đấu giá nếu có
- Nếu sổ cổ phần nhà đầu tư từ chối mua nhỏ hơn 30% tổng số cổ phần chào bán thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa thực hiện bán tiếp cho các nhà đầu tư đã tham dự đấu giá theo phương thức thỏa thuận với giá không thấp hơn giá đấu thành công bình quân của cuộc đấu giá.
- Nếu số lượng cổ phần nhà đầu tư trúng thầu từ chối mua từ 30% tổng số cổ phần chào bán trở lên thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa xem xét, quyết định tổ chức bán đấu giá tiếp số cổ phần từ chối mua (đấu giá lần 2). Giá khởi điểm trong trường hợp đấu giá lần 2 này không được thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất.
Câu hỏi thảo luận :
1.Có rất nhìu hình thức huy động vốn,vd như vay tín dụng ngân hàng,vậy tại sao DN lại tiến hành IPO?? Lợi ích của DN khi tiến hành IPO ???
2.Phân biệt IPO và việc 1 cổ đông hiện hữu bán lượng cổ phần đang nắm giữ (hay còn gọi là Chào bán cổ phần - Offer for Sale )
-->đọc tiếp...

Bài 3: Chứng khoán và Các chủ thể tham gia TTCK

A.Chứng khoán là hàng hoá trên TTCK, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu.Ngoài ra còn có các giấy tờ liên quan đến CK như giấy bảo đảm quyền mua CP,hợp đồng quyền chọn cũng đc giao dịch trên TTCK

1.Cổ phiếu là gì ?

• CP có nguồn gốc từ công ty cổ phần (Joint Stock Company) và chỉ công ty cổ phần mới có CP.Khi một công ty huy động vốn,số vốn được huy động đó sẽ chia ra nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần.Người mua cổ phần gọi là cổ đông(Holdershare).Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Nói cách khác, cổ phiếu chính là một chứng thư xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.

• Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.

CP thường: cổ đông nắm giữ CP thường được hưởng các quyền như được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; được quyền bầu cử vào bộ máy quản trị và kiểm sóat công ty; hưởng lợi khi công ty làm ăn có lãi và chịu lỗ khi hoạt động kinh doanh đình trệ tương ứng với phần vốn góp của mình..cùng các quyền hạn và trách nhiệm được pháp luật thừa nhận

Cổ phiếu ưu đãi: cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: k đc bầu cử và ứng cử vào ban quản trị,ban kiểm soát cty.Tuy nhiên họ đc dành cho những ưu đãi về mặt tài chính như đc hưởng mức cổ tức riêng biệt có tính chất cố định hàng năm;được ưu tiên chia lãi cổ phiếu thường,đc phân chia tài sản còn lại của cty khi cty thanh lý,giải thể.Có thể nói các nhà đầu tư này k can dự vào những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của cty


2.Trái phiếu: là một loại chứng khoán xác định nghĩa vụ trả nợ (cả vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu trái phiếu. Người sở hữu trái phiếu sẽ trở thành trái chủ, tức là chủ nợ của tổ chức phát hành (có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương hay các Công ty) .

B.Các chủ thể tham gia TTCK:

* Nhà phát hành:

Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện
huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán.

- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của họ.

* Nhà đầu tư :

Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.

* Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán

- Công ty chứng khoán
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Các trung gian tài chính

* Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán

- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Sở giao dịch chứng khoán
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm...


bài này Q thấy hơi khô.các bạn cố gắng nhé ;).

Câu hỏi bài này :) :

1.Có ý kiến cho rằng,các Doanh nghiệp tham gia TT với tư cách là người tạo ra hàng hóa ở TT sơ cấpmua bán các CK ở TT thứ cấp.Ý kiến đó đúng hay sai? Giải thik?
2.Nhà nước có tham gia TTCK với tư cách là người cung cấp hàng hóa cho TT hay không ??

Nội dung bài 4: Phát hành công chúng lần đầu- IPO
-->đọc tiếp...

Bài 2 -Cấu trúc cơ bản của TTCK

Bài 1 Q đăng đã thấy khá sôi nổi..rất vui vì việc đó..Theo như đã nói..hôm nay Q đăng típ bài 2..Hơi dài nhe.Mọi ng cố gắng tiếp thu nha :)

CẤU TRÚC CƠ BẢN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.Thị trường sơ cấp:
-Là nơi chứng khoán đc phát hành và phân phối lần đầu tiên cho các nhà đầu tư,được mua bán theo mệnh giá của đơn vị phát hành.Phát hành ra công chúng lần đầu (Initial Public Offering - IPO) là đợt phát hành và phân phối chứng khoán đầu tiên của một công ty cho rộng rãi công chúng đầu tư.Đây là giai đoạn đòi hỏi khả năng nghiệp vụ và trình độ chuyên môn cao và chính xác,vì chỉ cần xác định không đúng các điều kiện phát hành thì đợt IPO có nguy cơ thất bại

-Việc phát hành CK ra khỏi công chúng luôn phải đảm bảo 1 số điều kiện cơ bản như quy mô về vốn,hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh,mục đích phát hành chứng khoán,năng lực điều hành,tỉ lệ và thời gian nắm giữ cổ phiếu của cổ đông sáng lập

2.Thị trường thứ cấp
-Đây là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán ở TT sơ cấp .Khác với TT sơ cấp vốn có chức năng huy động vốn đầu tư,TT thứ cấp xét về bản chất,là nơi luân chuyển các nguồn vốn đầu tư.Nếu ở TT sơ cấp,CK được mua bán theo mệnh giá ghi trên CK thì ở TT thứ cấp,giá CK được xác định dựa trên các yếu tố sau:
+Quan hệ cung cầu trên TT
+Giá trị thực tế của Doanh nghiệp
+Uy tín của Doanh nghiệp
+Xu thế phát triển của Doanh nghiệp
+Tâm lý của người mua bán chứng khoán ở từng thời điểm nhất định
+Các thông tin,lời đồn về hoạt động của Doanh nghiệp
+Tính ổn định của nền kinh tế
Giữa TT sơ cấp và TT thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.TT thứ cấp phồn thịnh sẽ thúc đẩy TT sơ cấp phát triển và ngược lại.Việc phân biệt 2 khái niệm trên chỉ có ý nghĩa về mặt lí thuyết.Trên thực tế,đôi khi ranh giới k rõ ràng,trong TTCK vừa có giao dịch của TT sơ cấp vừa có của TT thứ cấp
Dựa vào phương thức tổ chức và giao dịch có thể chia TTCK thành 2 loại:

1.Sở giao dịch CK(TTCK tập trung):Ko tham gia vào việc mua bán CK mà chỉ là nơi giao dịch-tạo điều kiện cho các giao dịch được tiến hành 1 cách thuận lợi và dễ dàng

Chức năng của Sở GDCK:
-Cung cấp dịch vụ,giúp cty cổ phần đăng kí CK của họ trên TT nhưng những hàng hóa phải này đủ điều kiện giao dịch trong sở

-Tổ chức giao dịch CK cho các nhà kinh doanh và các nhà môi giới,giúp thực hiện nhanh chóng,thuận lợi các cuộc mua bán CK theo lệnh của khách hàng

-Cung cấp rộng rãi thông tin của các cty phát hành theo luật công bố thông tin cho nhà đầu tư

-Nhận bảo hộ CK của khách hàng gửi,thu cổ tức hộ khách hàng

-Thực hiện kiểm tra,giám sát các hoạt động giao dịch CK

Thành viên của Sở GDCK là các công ty CK.Muốn hoạt động tại Sở,cty CK phải là thành viên của Sở GDCK,phải hội đủ các tiêu chuẩn theo Luật định như Số vốn pháp định tối thiểu,có các chuyên gia kinh tế đc đào tạo về phân tích và kinh doanh CK...

2.Thị trường OTC(TT phi tập trung)

Bên cạnh TT giao dịch tập trung(Sở GD CK) - nơi diễn ra các hoạt động giao dịch CK của các công ty lớn đã qua nhìu năm thử thách trên thị trường - còn có TT phi tập trung(OTC) dành để giao dịch CK của các cty vừa và nhỏ,hoặc những cty chưa đủ điều kiện để niêm yết trên TT tập trung.TT OTC là TT thương lượng,nơi người mua và người bán trực tiếp thỏa thuận với nhau về những điều kiện chủ yếu của giao dịch như số lượng,giá cả...

Hôm nay lượng bài khá nhìu phải k:)..Q mong là các bạn sẽ tiếp thu đc...

Câu hỏi thảo luận:

1.Phân biệt TTCK tập trung(Sở giao dịch CK) và TTCK phi tập trung (OTC)
2.TTCK phi tập trung (OTC) có được coi là TT sơ cấp k ???
3.Bên cạnh TT giao dịch tập trung(Sở GD CK) - nơi diễn ra các hoạt động giao dịch CK của các công ty lớn đã qua nhìu năm thử thách trên thị trường
Thời gian hoạt động kinh doanh của DN tối thiểu là bao lâu mới được niêm yết trên Sở GDCK ???

Bài 3: Chứng khoán và Các chủ thể tham gia TTCK
-->đọc tiếp...

Bài 1:Cái nhìn thông thoáng về Thị trường chứng khoán và khái niệm TTCK

Như đã thông báo,hôm nay là ngày đầu tiên bắt đầu chuỗi kiến thức cơ bản của chtr "Một ít kiến thức cho mỗi ngày thêm ý nghĩa"
Bài viết này đc Dr.Nguyen biên soạn
Lời Mở Đầu
Thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây đã phát triển rất nhanh chóng. Giá trị thị trường đã đạt trên 15tỷ USD, tạo được những vị thế quan trọng trong thị trường tài chính Việt Nam. Tuy nhiên trong sự phát triển của một thị trường còn non trẻ vẫn còn có điểm lui do sự thiếu hiểu biết của nhà đầu tư mà chủ yếu là những nhà đầu tư nhỏ lẻ đã làm cho thị trường đôi khi mất đi sự ổn định cần có. Những quyết định của nhà nước còn đôi khi chưa phù hợp với thị trường đã gây ra những cơn sóng làm giảm nhịp phát triển phát triển của thị trường là “động lực” thúc đẩy những người “yếu bóng vía” rời khỏi thị trường mà không hiểu rằng thị trường có thể mang lại lợi nhuận cho dù đang lên hay xuống, trong những lúc đó ta có thể có vị thế bán hay mua, chỉ khi nào thị trường đi theo đường thẳng nằm ngang thì ta nên đứng ngoài cuộc nhưng đừng rời bỏ thị trường - hãy kiên nhẫn. Trong những ngày gần đây thị trường đã tăng liên tục các mã chứng khoán liên tục xanh với khối lượng giao dịch và những phiên khối lượng khớp lệnh cực lớn . Tôi xin đưa ra một số những định nghĩa trong chứng khoán mà tôi đã tổng hợp thống kê được, nhưng đây chỉ là một phần nhỏ trong những gì mà tôi định viết, tôi mong muốn viết một chút gì đó về thị trường chứng khoán Việt Nam từ những ngày đầu thành lập cho tới bây giờ, mong là những người trong nhóm chứng khoán có thể giúp tôi. Nếu các bạn thấy những định nghĩa…mà giống ở đâu đó thỉ đừng có ngạc nhiên nha.

Chương I.Tổng quan về thị trường chứng khoán
1) Thị trường chứng khoán :
a)Khái niệm :
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán vì mục tiêu lợi nhuận.

Điểm nhấn: các bạn đã nhìn nhận rõ được quan điểm: "Khi thị trường giảm điểm thì không chứng tỏ được việc các bạn cần phải thoát khỏi thị trường vì nghĩ rằng đang thua lỗ " hay chưa???

Nội dung bài 2: Cấu trúc cơ bản của thị trường chứng khoán
Xem bài này ở diễn đàn kinh tế link đến bài này
-->đọc tiếp...

Học chơi chứng khoán ONLINE (Link bài học)

-->đọc tiếp...
BlogWeb: tạo từ Blog của Google
Nội dung: lấy từ nhiều Nguồn khác nhau.
Mục đích: note lại bài Hướng dẫn hay và Đáng đọc.
Kết quả: nghiện Internet Nặng.
Tương lại: xuống lỗ Vẫn Nghiện nếu không có ai giúp.
Blog Web của: Trí Dũng đến từ Việt Nam - Liên kết đến trang Blog Cá Nhân
Tôi biết (^_^)
Thông tin về Tác giả. Chi Tiết
Sử dụng (FireFox | Google Chrome on Ubuntu) để xem tốt nhất. Học Nhiều Hơn Tại Đây
©2009 Google Blogger - HuuNguyen's Home